Đạo Mẫu

Bài học tu hành từ câu chuyện nước mắt của thiền sư

Ai đó cho rằng tu hành càng cao thì tình yêu càng khô héo như gỗ và đá, đó là sai lầm. Vì lẽ đó, một vị thiền sư già sau ba năm luyện tâm như củi khô băng giá, đã bị bà lão hộ pháp châm lửa đốt chén đuổi đi, vì cho rằng “vô dụng”.

Có một thanh niên sau khi xuất gia xuất gia, sống và trụ trì một tu viện xa gia đình. Nhiều người ngưỡng mộ tài danh và đức độ của Ngài nên đến xin xuất gia làm đệ tử.

Ngài luôn dạy các đệ tử của mình rằng họ nên dứt bỏ tình trạng khó khăn của mình và tự tìm kiếm để nhận ra chân lý, tinh tấn khơi dậy trí tuệ, tiêu diệt chấp ngã và cứu người khác. Và ông nhấn mạnh rằng chỉ có thoát khỏi tình yêu thế gian thì mới có thể đạt được giải thoát.

Một ngày nọ, từ quê hương xa xôi, có tin đồn rằng: “Người con trai duy nhất của thiền sư trước khi xuất gia bị bệnh nặng rồi qua đời. Các đệ tử của ông sau khi nhận được tin này đã tụ họp bàn bạc, họ đặt ra hai câu hỏi như sau: một là, có nên hay không báo tin buồn này cho sư phụ, thứ hai là khi sư phụ nghe được tin tức không may này thì sẽ phản ứng như thế nào?

Cuối cùng họ đi đến kết luận: “Sư phụ đã cắt đứt nhân duyên rồi, đứa con duy nhất đó dù sao vẫn là con của hắn, cho nên ta phải báo tin không vui này cho hắn.

Đồng thời, họ cũng nghĩ rằng Sư phụ là người đã tu luyện đến tầng thứ cao như vậy, và nếu họ nghe tin đứa con duy nhất của họ đã chết, họ sẽ chỉ thờ ơ.

Thế là họ cùng nhau đi báo tin này cho thiền sư, vị cao tăng nghe tin thì lòng buồn rầu, hai hàng lệ cứ lăn dài trên má. Các đệ tử khi thấy sư phụ phản ứng như vậy thì cảm thấy rất kỳ quái, không ngờ sư phụ sau thời gian tu luyện lâu như vậy cũng không thể thoát khỏi nhân duyên.

Trong nhóm các môn đệ, một người can đảm đứng lên và hỏi ông:

“Sư phụ, bình thường thì Ngài dạy chúng ta thoát khỏi những điều kiện thế gian và cần phải tìm kiếm sự giải thoát, phải không? Sư phụ đã xuất gia lâu rồi, sao khi nghe tin con chết, sư phụ lại đau lòng như vậy, đó có phải là điều ngược lại với tất cả những gì mà sư phụ dạy chúng con hàng ngày không?

Nước mắt lưng tròng, vị thiền sư nhìn lên và nói: “Tôi dạy bạn thoát khỏi cảm xúc thế gian và tìm kiếm sự giải thoát, không phải dạy bạn sống một cuộc sống ích kỷ chỉ biết đến bản thân mình, mà từ những thành tựu của bản thân để mang lại lợi ích và hạnh phúc cho nhân loại. Mỗi chúng sinh chưa giác ngộ đều có người thân qua đời , khiến họ đau đớn, con tôi cũng là một trong những chúng sinh, tất cả chúng sinh đều như con tôi, tôi vì con tôi. Tôi vì nỗi đau của tất cả chúng sinh vô thực trên thế gian mà khóc. “

Sau khi các đệ tử nghe lời dạy của Ngài, lòng họ tràn đầy từ bi, mở rộng tình thương yêu, tinh tấn tu học và cầu được giải thoát.

BÀI HỌC Đạo đức:

Đây là một câu chuyện có thật xúc động lòng người, nói rõ động cơ và mục tiêu tu hành. Nếu một người đáng được tôn trọng? thì người đó phải có khả năng tu hành vì lợi ích chúng sinh chứ không vì lợi ích cá nhân của mình để đạt được ý nghĩa chân chính của việc xuất gia, tức là một con người đứng trên loài người. con người, thật khó để so sánh.

Từ câu chuyện này chúng ta có thể thấy rõ tinh thần của Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Đại thừa lấy từ bi làm gốc, để vạn vật tìm được chỗ ở. Cũng có thể nói, đó là tinh thần “không mà không không”, vô ngã là không, từ bi cũng không phải là không.

Dẫu biết rằng vô ngã mà không bỏ lòng từ bi thì chẳng phải mà chẳng phải vậy; Mặc dù thực hành lòng từ bi mà không dính mắc vào việc có một ngã, điều đó không phải là không, nhưng không phải. Khi không hiểu rõ ý nghĩa của “tánh không”, thì không thể thực hành pháp quán chiếu tất cả chúng sinh và chính mình không hai và không sai biệt, nên dù có từ bi nhưng cũng không có thật. thật nhân từ. Đó là lý do tại sao các đệ tử của các vị cao tăng trước tiên phải nhập tánh không rồi mới có thể thảo luận về ý nghĩa của chúng và vạn vật hòa làm một mà không có bất kỳ sự khác biệt nào.

Bạn phải đi vào tính không để có lòng từ bi thực sự. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Khi các vị bồ tát thấu triệt tất cả các pháp vốn bình đẳng, không còn niệm oán thân. Bồ tát nhìn chúng sinh bằng con mắt yêu thương, không thương xót, không oán hận, xem xét tất cả thiện căn và trí tuệ cho họ, và thuyết giảng Phật pháp để hướng dẫn họ trên con đường tu tập. Trong thế giới rộng lớn này, có biết bao chúng sinh tham lam ngũ dục, không biết ơn, không biết hướng thiện, ác độc tràn lan. Nếu Bồ tát không coi tất cả đều bình đẳng thì làm sao có thể hòa nhập vào thế gian để yêu thương tất cả chúng sinh như con đẻ của mình để cứu họ? “

Đức Phật cũng đã nói trong Kinh Niết Bàn rằng:

“Tôi yêu tất cả chúng sinh như con một. Sự khác biệt giữa Bồ tát và Tiểu thừa là lòng từ bi. Đức Phật dạy rằng ba độc tham, sân, si là nguyên nhân của mọi đau khổ. Tu hành Tiểu thừa thì phải diệt tham, sân, si, nhưng tu đại thừa không bỏ mà dùng nó để cứu độ chúng sinh. Tại sao? Sư Nguyệt Khê nói: “Tham là tham muốn cứu độ chúng sinh làm thành Phật đạo, sân hận là quở trách chúng sinh khen ngợi Đại thừa, si mê là nhận chúng sinh làm con. Một vị bồ tát không trừ tham, sân, si.” si mê không phải là bồ tát hết si mê, nhưng vì lòng thương chúng sinh nên không bỏ ”.

Từ bi là gì?

Đó có phải là tình cảm bình thường mà chúng ta hay nói đến không? “từ” là đem lại niềm vui “từ bi” là hết khổ. Làm cho chúng sinh thoát khỏi đại dương sinh tử và đạt được niềm an vui đích thực là ý nghĩa thực sự của “từ bi”.

Trong giáo lý của Phật giáo, lòng từ bi được chia thành ba loại.

  • “Chúng sinh tùy duyên” tức là coi tất cả chúng sinh trong Lục đạo là cha mẹ, anh chị em, do đó luôn tìm cách đem lại niềm vui và chấm dứt mọi khổ đau cho họ.
  • Thứ hai là “Pháp tùy duyên từ” tức là chúng ta đoạn tuyệt chấp ngã, luôn tùy theo nguyện vọng của chúng sinh để làm cho đoạn diệt khổ đau, an vui.
  • Thứ ba là “tâm từ không điều kiện”, tức là tâm của chư Phật, biết nhân duyên vốn là hư không, lừa dối lừa gạt, nên tâm không có điều kiện, mà để cho tất cả chúng sinh tự nhiên được lợi ích đoạn diệt. đau khổ và đạt được hạnh phúc.

Vì có “chúng sinh có điều kiện” mới thể nhập “Pháp tùy duyên” và “Định từ”. Nếu không thành tựu chúng sinh, thành tựu nhân duyên, thành tựu từ bi, thì hành giả Đại thừa thậm chí sẽ không thể đạt được.

Chính vì vậy mà nước mắt của thiền sư đã rơi, và Bồ tát thấy chúng sinh trong thế giới của chúng ta đều mê muội, thậm chí chết rồi mà vẫn chưa giác ngộ. Vậy chẳng phải ngày nào nước mắt cũng rơi khỏi trái tim anh sao?

Một vị tiểu hòa thượng đã rơi nước mắt khi hay tin người thân của mình qua đời. Chuyện bình thường mà lạ lùng đến thế, khiến môn đồ và tín đồ hoang mang, không biết tại sao? Thì ra dù đã đoạn tuyệt duyên phận, một đời ẩn dật cống hiến cho sự nghiệp giải thoát, bất động giữa muôn trùng biến động, thì Ngài vẫn là một con người đầy lòng trắc ẩn, vẫn yêu sâu đậm thế giới ô uế này.

Ai đó cho rằng tu hành càng cao thì tình yêu càng khô héo như gỗ và đá, đó là sai lầm. Vì lẽ đó, một vị thiền sư già sau ba năm luyện tâm như củi khô băng giá, đã bị bà lão hộ pháp châm lửa đốt chén đuổi đi, vì cho rằng “vô dụng”. Nếu bạn thực hành mà không bị lay động bởi niềm vui và nỗi buồn của thế gian, làm sao bạn có thể phát nguyện lớn để cứu chúng sinh thoát khỏi đau khổ?

Trước khi có thể trở thành Thánh, chúng ta phải thực sự là một con người. Một khi bạn đã trở thành Thánh, bạn sẽ trở nên giống người hơn và giống như thật hơn. Vì vậy, cùng một giọt nước mắt nhưng không phải là nỗi buồn, sự riêng tư, đau khổ mà là lòng trắc ẩn và tình yêu phổ quát. Hãy sống một cuộc đời vô nhiễm, trôi theo dòng đời không bị cuốn trôi, đi cùng cuộc đời để yêu thương và cứu rỗi. Đó là hành động cao cả và từ bi nhất mà không phải học viên bình thường nào cũng làm được.

Nguồn: Thư viện Hoa Sen


Thông tin thêm

Bài học tu hành từ câu chuyện nước mắt của thiền sư

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

[rule_3_plain]

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau ba năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc và đuổi đi, vì “vô dụng”.

Người tu hành khổ não vì mỹ sắc tỉnh ngộ bởi lời Phật dạy về lẽ vô thường

Top 8 điều phụ nữ tuyệt đối không nên nói để giữ phúc đức cho con cháu

Lời Phật dạy: Toan tính không đem lại cho bạn hạnh phúc

Bị hổ rượt, chàng trai cầu cứu đức Phật và lời khuyên đáng suy ngẫm

Có một người thanh niên sau khi xuất gia trở thành một vị cao tăng, sống và trù trì một tu viện cách rất xa gia đình. Rất nhiều người ngưỡng mộ danh đức của Ngài nên đến xuất gia làm đệ tử.
Ngài luôn dạy các đệ tử nên đoạn trừ thế duyên cần cầu tự mình liễu ngộ chân lý, tinh tấn khơi dậy trí tuệ, phá trừ ngã chấp, tự độ độ tha. Và ngài nhấn mạnh chỉ có đoạn trừ tình ái thế gian thì mới có khả năng đạt được giải thoát.
Một ngày nọ, từ nơi quê hương xa xôi của ngài truyền đến một tin đồn rằng: “đứa con duy nhất của thiền sư lúc chưa xuất gia đã lâm trọng bệnh qua đời. Các đệ tử của ngài sau khi nhận được tin này cùng nhau tụ tập lại luận bàn, họ đưa ra hai vấn đề như sau: một là, nên hay không nên báo tin buồn này cho sư phụ biết? hai là, khi sư phụ nghe tin bất hạnh này rồi sẽ có phản ứng thế nào ???
Cuối cùng họ đi đến kết luận: “Sư phụ đã đoạn trừ thế duyên rồi, đứa con duy nhất đó dù sao thì cũng là con của ngài, nên báo tin không vui này cho ngài biết.”
Đồng thời họ cũng nghĩ sư phụ là người đã tu hành đến mức cao như vậy rồi nếu nghe tin đứa con duy nhất chết thì cũng chỉ thản nhiên thôi.
Thế là họ cùng nhau đi đến báo tin này cho thiền sư, khi vị cao tăng vừa nghe tin thì lòng buồn ruời rượi và hai dòng nước mắt cứ lăn dài xuống má. Các đệ tử vừa nhìn thấy sư phụ có phản ứng như vậy thì cảm thất rất lạ, họ cũng không ngờ sư phụ qua thời gian dài tu hành như vậy mà cũng không đoạn trừ được thế duyên.
Trong nhóm đệ tử có một người can đảm đứng ra chấp tay hỏi ngài:
“sư phụ, bình thường sư phụ thường dạy chúng con đoạn trừ thế duyên, cần cầu giải thoát phải không? Sư phụ xuất gia đã lâu vì sao nghe tin con chết lại đau khổ nhiều như vậy, như thế có phải là ngược lại tất cả những gì mà hằng ngày sư phụ vẫn thường dạy chúng con không?
Trong đôi mắt đẫm lệ, Thiền sư ngước lên nói: “Tôi dạy các người đoạn trừ tình cảm thế tục mong cầu thành tựu giải thoát, chứ không phải dạy các người sống cuộc sống ích kỷ chỉ biết có mình, mà từ thành tựu của chính mình đem lại lợi ích an vui cho nhân loại. Mỗi một chúng sanh lúc chưa giác ngộ đều có những người thân ra đi, đều làm cho họ đau lòng, đứa con của ta cũng là một trong những chúng sanh, tất cả chúng sanh giống như con của ta, ta vì những đứa con của ta mà khóc, cũng là vì nỗi đau của tất cả chúng sanh chưa chứng ngộ của thế gian mà khóc vậy” !
Sau khi các đệ tử nghe lời ngài dạy, trong lòng tràn đầy thương cảm, mở rộng tình thương tinh tấn tu học, cần cầu giải thoát.
BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Đây là câu chuyện có thật làm xúc động lòng người, nói rõ động cơ và mục tiêu của việc tu hành. Nếu một người đáng được tôn kính? thì người đó phải xác lập được việc tu hành của mình là vì mang đến lợi ích cho chúng sanh mà không vì lợi ích cá nhân như thế mới thành tựu đích thực ý nghĩa của việc xuất gia, đó là con người đứng trên những con người, khó mà lấy gì để so sánh được.
Từ câu chuyện này chúng ta có thể thấy rõ tinh thần của Phật giáo đại thừa, Phật giáo đại thừa lấy tâm từ bi làm gốc, như thế mới có thể làm cho vạn vật tìm được chổ trú chân. Cũng có thể nói đó là tinh thần “không mà không phải không”, vô ngã là không, từ bi là không phải không.
Tuy biết là vô ngã mà không bỏ đi từ bi đó là không mà không phải không; tuy hành hạnh từ bi mà không chấp trước có ngã đó là không phải không mà không. Khi một người không hiểu rõ nghĩa của “không” thì không có khả năng thực hành được pháp tu quán tất cả chúng sanh và mình là không phải hai và không có sự khác biệt, như vậy tuy cũng có từ bi nhưng không phải chân thật từ bi. Đó là vì sao các đệ tử của cao tăng trước phải nhập vào tánh không sau đó mới có thể luận đàm nghĩa mình và vạn loại là một không có sự sai khác.
Phải nhập vào không tánh thì mới có từ bi đích thực. Kinh Hoa Nghiêm nói: “khi các Bồ tát quán thấu triệt tất cả các pháp vốn bình đẳng, không khởi lên tâm niệm có oán có thân. Bồ tát nhìn chúng sanh bằng đôi mắt của tình thương không ân không oán, xem tất cả đều là thiện tri thức vì họ mà thuyết pháp hướng dẫn cho họ con đường để có thể tu tập. Trong thế giới bao la này biết bao nhiêu là chúng sanh tham đắm ngũ dục, không biết ân nghĩa, không biết hướng thiện, tội ác lan tràn. Nếu Bồ tát không quán tất cả bình đẳng thì làm sao có khả năng hoà nhập vào đời thương tất cả chúng sanh như con mình để mà độ họ”.
Đức Phật cũng đã nói trong kinh Niết Bàn rằng:
“Ta yêu tất cả chúng sanh như con một. Chổ khác biệt của Bồ tát và Tiểu thừa là từ bi. Phật dạy ba độc tham sân si là nguyên nhân của tất cả khổ đau, tu Tiểu thừa phải đoạn trừ tham sân si, nhưng tu Đại thừa thì không đoạn mà dùng nó để độ chúng sanh. Vì sao? Nguyệt Khê đại sư nói: “tham là tham độ chúng sanh làm cho thành Phật đạo, sân là quở trách chúng sanh tán thán đại thừa, si là nhận chúng sanh lám con. Bồ tát không đoạn trừ tham sân si không phải là bồ tát mê chấp mà là vì lòng từ thương chúng sanh mà không đoạn”.
Từ bi là gì?
Có phải là thứ tình cảm bình thường mà chúng ta thường nói không? “từ” là mang niềm vui đến “bi” là làm cho hết khổ. Làm cho chúng sanh thoát khỏi bể khổ sanh tử và đạt được niềm vui chân thật đó mới đúng nghĩa của “từ bi”.
 Trong giáo lý của đạo Phật phân từ bi thành ba loại.

“Chúng sanh duyên từ” đó là xem tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo như cha mẹ anh em một nhà do đó mà thường luôn tìm cách đem niềm vui và dứt hết khổ đau cho họ.
Hai là “pháp duyên từ” đó là mình phá bỏ chấp trước nhân ngã, luôn tuỳ theo mong cầu của chúng sanh mà làm cho lìa khổ được vui.
Ba là “vô duyên từ” đó là tâm của chư Phật, biết được các duyên vốn không thật, điên đảo hư vọng cho nên tâm không chổ duyên, nhưng lại làm cho tất cả chúng sanh tự nhiên đạt được lợi ích của sự dứt khổ và đạt được an vui.

Do có “chúng sanh duyên từ” mới có khả năng nhập vào “pháp duyên từ” và “vô duyên từ”. Nếu không có thành tựu về chúng sanh, thành tựu về duyên, thành tựu về từ bi thì hành giả tu đại thừa cũng không cả khả năng thành tựu.
Nước mắt của thiền sư vì vậy mà rơi, Bồ tát nhìn thấy chúng sanh ở thế giới ta bà mê muội, đến chết mà cũng chưa ngộ. Như vậy không phải từng ngày từng ngày nước mắt lòng rơi đó sao?
Một bậc cao tăng phạm hạnh đáng kính đã rơi nước mắt khi nghe người thân của mình ra đi. Chuyện thật bình thường, ấy vậy mà rất lạ, làm cho những đệ tử và tín đồ ngơ ngác, chẳng biết tại sao? Thì ra dù đã đoạn trần duyên, một đời ẩn dật dấn thân cho sự nghiệp giải thoát, bất động giữa muôn trùng biến động nhưng ngài vẫn là một con người tràn đầy bi mẫn, vẫn yêu thương tha thiết trần gian ô trược này.
Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau ba năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc và đuổi đi, vì “vô dụng”. Tu hành mà không còn rung cảm trước buồn vui của trần thế thì làm sao mà phát khởi đại nguyện cứu khổ chúng sanh.
Trước khi trở thành Thánh nhân, chúng ta phải đích thực là một con người. Khi đã trở thành bậc Thánh rồi thì lại càng người và đời hơn. Cho nên, cùng là nước mắt nhưng không bi lụy, riêng tư, đau khổ mà chính là từ bi, yêu thương rộng khắp. Sống trong cuộc đời mà bất nhiễm, xuôi theo dòng đời mà không bị cuốn trôi, song hành với cuộc đời để yêu thương và cứu độ. Đó mới là hành động cao cả và bi mẫn nhất mà không phải người tu hành bình thường nào cũng làm được.
Nguồn: Thư viện Hoa Sen

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

[rule_2_plain]

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

[rule_2_plain]

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

[rule_3_plain]

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau ba năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc và đuổi đi, vì “vô dụng”.

Người tu hành khổ não vì mỹ sắc tỉnh ngộ bởi lời Phật dạy về lẽ vô thường

Top 8 điều phụ nữ tuyệt đối không nên nói để giữ phúc đức cho con cháu

Lời Phật dạy: Toan tính không đem lại cho bạn hạnh phúc

Bị hổ rượt, chàng trai cầu cứu đức Phật và lời khuyên đáng suy ngẫm

Có một người thanh niên sau khi xuất gia trở thành một vị cao tăng, sống và trù trì một tu viện cách rất xa gia đình. Rất nhiều người ngưỡng mộ danh đức của Ngài nên đến xuất gia làm đệ tử.
Ngài luôn dạy các đệ tử nên đoạn trừ thế duyên cần cầu tự mình liễu ngộ chân lý, tinh tấn khơi dậy trí tuệ, phá trừ ngã chấp, tự độ độ tha. Và ngài nhấn mạnh chỉ có đoạn trừ tình ái thế gian thì mới có khả năng đạt được giải thoát.
Một ngày nọ, từ nơi quê hương xa xôi của ngài truyền đến một tin đồn rằng: “đứa con duy nhất của thiền sư lúc chưa xuất gia đã lâm trọng bệnh qua đời. Các đệ tử của ngài sau khi nhận được tin này cùng nhau tụ tập lại luận bàn, họ đưa ra hai vấn đề như sau: một là, nên hay không nên báo tin buồn này cho sư phụ biết? hai là, khi sư phụ nghe tin bất hạnh này rồi sẽ có phản ứng thế nào ???
Cuối cùng họ đi đến kết luận: “Sư phụ đã đoạn trừ thế duyên rồi, đứa con duy nhất đó dù sao thì cũng là con của ngài, nên báo tin không vui này cho ngài biết.”
Đồng thời họ cũng nghĩ sư phụ là người đã tu hành đến mức cao như vậy rồi nếu nghe tin đứa con duy nhất chết thì cũng chỉ thản nhiên thôi.
Thế là họ cùng nhau đi đến báo tin này cho thiền sư, khi vị cao tăng vừa nghe tin thì lòng buồn ruời rượi và hai dòng nước mắt cứ lăn dài xuống má. Các đệ tử vừa nhìn thấy sư phụ có phản ứng như vậy thì cảm thất rất lạ, họ cũng không ngờ sư phụ qua thời gian dài tu hành như vậy mà cũng không đoạn trừ được thế duyên.
Trong nhóm đệ tử có một người can đảm đứng ra chấp tay hỏi ngài:
“sư phụ, bình thường sư phụ thường dạy chúng con đoạn trừ thế duyên, cần cầu giải thoát phải không? Sư phụ xuất gia đã lâu vì sao nghe tin con chết lại đau khổ nhiều như vậy, như thế có phải là ngược lại tất cả những gì mà hằng ngày sư phụ vẫn thường dạy chúng con không?
Trong đôi mắt đẫm lệ, Thiền sư ngước lên nói: “Tôi dạy các người đoạn trừ tình cảm thế tục mong cầu thành tựu giải thoát, chứ không phải dạy các người sống cuộc sống ích kỷ chỉ biết có mình, mà từ thành tựu của chính mình đem lại lợi ích an vui cho nhân loại. Mỗi một chúng sanh lúc chưa giác ngộ đều có những người thân ra đi, đều làm cho họ đau lòng, đứa con của ta cũng là một trong những chúng sanh, tất cả chúng sanh giống như con của ta, ta vì những đứa con của ta mà khóc, cũng là vì nỗi đau của tất cả chúng sanh chưa chứng ngộ của thế gian mà khóc vậy” !
Sau khi các đệ tử nghe lời ngài dạy, trong lòng tràn đầy thương cảm, mở rộng tình thương tinh tấn tu học, cần cầu giải thoát.
BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Đây là câu chuyện có thật làm xúc động lòng người, nói rõ động cơ và mục tiêu của việc tu hành. Nếu một người đáng được tôn kính? thì người đó phải xác lập được việc tu hành của mình là vì mang đến lợi ích cho chúng sanh mà không vì lợi ích cá nhân như thế mới thành tựu đích thực ý nghĩa của việc xuất gia, đó là con người đứng trên những con người, khó mà lấy gì để so sánh được.
Từ câu chuyện này chúng ta có thể thấy rõ tinh thần của Phật giáo đại thừa, Phật giáo đại thừa lấy tâm từ bi làm gốc, như thế mới có thể làm cho vạn vật tìm được chổ trú chân. Cũng có thể nói đó là tinh thần “không mà không phải không”, vô ngã là không, từ bi là không phải không.
Tuy biết là vô ngã mà không bỏ đi từ bi đó là không mà không phải không; tuy hành hạnh từ bi mà không chấp trước có ngã đó là không phải không mà không. Khi một người không hiểu rõ nghĩa của “không” thì không có khả năng thực hành được pháp tu quán tất cả chúng sanh và mình là không phải hai và không có sự khác biệt, như vậy tuy cũng có từ bi nhưng không phải chân thật từ bi. Đó là vì sao các đệ tử của cao tăng trước phải nhập vào tánh không sau đó mới có thể luận đàm nghĩa mình và vạn loại là một không có sự sai khác.
Phải nhập vào không tánh thì mới có từ bi đích thực. Kinh Hoa Nghiêm nói: “khi các Bồ tát quán thấu triệt tất cả các pháp vốn bình đẳng, không khởi lên tâm niệm có oán có thân. Bồ tát nhìn chúng sanh bằng đôi mắt của tình thương không ân không oán, xem tất cả đều là thiện tri thức vì họ mà thuyết pháp hướng dẫn cho họ con đường để có thể tu tập. Trong thế giới bao la này biết bao nhiêu là chúng sanh tham đắm ngũ dục, không biết ân nghĩa, không biết hướng thiện, tội ác lan tràn. Nếu Bồ tát không quán tất cả bình đẳng thì làm sao có khả năng hoà nhập vào đời thương tất cả chúng sanh như con mình để mà độ họ”.
Đức Phật cũng đã nói trong kinh Niết Bàn rằng:
“Ta yêu tất cả chúng sanh như con một. Chổ khác biệt của Bồ tát và Tiểu thừa là từ bi. Phật dạy ba độc tham sân si là nguyên nhân của tất cả khổ đau, tu Tiểu thừa phải đoạn trừ tham sân si, nhưng tu Đại thừa thì không đoạn mà dùng nó để độ chúng sanh. Vì sao? Nguyệt Khê đại sư nói: “tham là tham độ chúng sanh làm cho thành Phật đạo, sân là quở trách chúng sanh tán thán đại thừa, si là nhận chúng sanh lám con. Bồ tát không đoạn trừ tham sân si không phải là bồ tát mê chấp mà là vì lòng từ thương chúng sanh mà không đoạn”.
Từ bi là gì?
Có phải là thứ tình cảm bình thường mà chúng ta thường nói không? “từ” là mang niềm vui đến “bi” là làm cho hết khổ. Làm cho chúng sanh thoát khỏi bể khổ sanh tử và đạt được niềm vui chân thật đó mới đúng nghĩa của “từ bi”.
 Trong giáo lý của đạo Phật phân từ bi thành ba loại.

“Chúng sanh duyên từ” đó là xem tất cả chúng sanh trong tam đồ lục đạo như cha mẹ anh em một nhà do đó mà thường luôn tìm cách đem niềm vui và dứt hết khổ đau cho họ.
Hai là “pháp duyên từ” đó là mình phá bỏ chấp trước nhân ngã, luôn tuỳ theo mong cầu của chúng sanh mà làm cho lìa khổ được vui.
Ba là “vô duyên từ” đó là tâm của chư Phật, biết được các duyên vốn không thật, điên đảo hư vọng cho nên tâm không chổ duyên, nhưng lại làm cho tất cả chúng sanh tự nhiên đạt được lợi ích của sự dứt khổ và đạt được an vui.

Do có “chúng sanh duyên từ” mới có khả năng nhập vào “pháp duyên từ” và “vô duyên từ”. Nếu không có thành tựu về chúng sanh, thành tựu về duyên, thành tựu về từ bi thì hành giả tu đại thừa cũng không cả khả năng thành tựu.
Nước mắt của thiền sư vì vậy mà rơi, Bồ tát nhìn thấy chúng sanh ở thế giới ta bà mê muội, đến chết mà cũng chưa ngộ. Như vậy không phải từng ngày từng ngày nước mắt lòng rơi đó sao?
Một bậc cao tăng phạm hạnh đáng kính đã rơi nước mắt khi nghe người thân của mình ra đi. Chuyện thật bình thường, ấy vậy mà rất lạ, làm cho những đệ tử và tín đồ ngơ ngác, chẳng biết tại sao? Thì ra dù đã đoạn trần duyên, một đời ẩn dật dấn thân cho sự nghiệp giải thoát, bất động giữa muôn trùng biến động nhưng ngài vẫn là một con người tràn đầy bi mẫn, vẫn yêu thương tha thiết trần gian ô trược này.
Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau ba năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc và đuổi đi, vì “vô dụng”. Tu hành mà không còn rung cảm trước buồn vui của trần thế thì làm sao mà phát khởi đại nguyện cứu khổ chúng sanh.
Trước khi trở thành Thánh nhân, chúng ta phải đích thực là một con người. Khi đã trở thành bậc Thánh rồi thì lại càng người và đời hơn. Cho nên, cùng là nước mắt nhưng không bi lụy, riêng tư, đau khổ mà chính là từ bi, yêu thương rộng khắp. Sống trong cuộc đời mà bất nhiễm, xuôi theo dòng đời mà không bị cuốn trôi, song hành với cuộc đời để yêu thương và cứu độ. Đó mới là hành động cao cả và bi mẫn nhất mà không phải người tu hành bình thường nào cũng làm được.
Nguồn: Thư viện Hoa Sen

Nguồn: https://tamlinhviet.org/

#Bài #học #hành #từ #câu #chuyện #nước #mắt #của #thiền #sư

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button