Đạo Mẫu

Bí ẩn ngôi đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc ở Hà Tĩnh

Đền Truông Bát hay đền Bà Chúa Lộc thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền thờ Bà Chúa Lộc mẹ của Ông Hoàng Mười Nghệ An.

Hãy cùng TamLinhViet tìm hiểu về Đền Bà Chúa Lộc – Đền Trường Bát qua bài viết này.

Đền Truông Bát ở Hà Tĩnh ở đâu?

Đền Truông Bát là một di tích cổ kính được xây dựng cách đây khoảng 600 năm, tọa lạc trên một vùng núi non xanh tươi, ngay góc ngã ba Khe Giao – điểm giao nhau của Tỉnh lộ 3 và Quốc lộ 15, thuộc thôn 1, xã Ngọc Sơn, Thạch. Huyện Hà Tỉnh Hà Tĩnh.

Miếu Bà Chúa Lộc nằm ở vị trí rất thuận lợi về giao thông: từ trung tâm thành phố Hà Tĩnh đi vào khoảng 12 km, từ ngã ba Đồng Lộc đi vào khoảng 9 km.

Bà Chúa Lộc là ai?

Qua Ngã ba Đồng Lộc là đến đền Truông Bát, là nơi thờ Vương Nương Thánh Mẫu thứ hai Thượng ngàn, còn gọi là Lộc Hoa công chúa (Bà Chúa Lộc). Bà tên thật là Phạm Thị Thoa, quê ở huyện Đỗ Gia, nay là một phần huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.

Bà có chồng là Nguyễn Duy Lạc quê ở làng Xuân Am Mỏ Hạc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bà sinh được một người con trai tên là Nguyễn Duy Khôi.

Bà Phạm Thị Thoa (Bà Chúa Lộc) sống vào thế kỷ 15, giai đoạn lịch sử biến động của dân tộc Việt Nam: 1400 – Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh liền lấy cớ “Phù Trần diệt Hồ” để kéo quân sang xâm lược nước ta. Nhà Hồ nhanh chóng sụp đổ, nhà Minh đặt nền đô hộ trên đất nước ta. Ở Lam Sơn – Thanh Hóa, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa.

Trước hoàn cảnh đó, bà Phạm Thị Thoa đã đến vùng đất này thuộc xã Ngọc Sơn chiêu binh, khai khẩn đất hoang, tích lũy lương thực, luyện vũ khí chờ thời cơ khởi nghĩa chống quân Minh. Trong những năm 1425 – 1426, nghe theo kế sách của Nguyễn Chích, Lê Lợi đã tiến vào Nam lấy Nghệ Tĩnh, nơi đất rộng, người đông làm nơi “bình thiên hạ”, tạo đà tấn công thành Đông Quan để giải phóng đất nước.

Tại Nghệ Tĩnh, nghĩa quân Lam Sơn và con trai bà Phạm Thị Thoa là Lê Khôi được nhân dân chăm sóc, đùm bọc, đóng góp sức người, sức của cho nghĩa quân, trong đó có bà Phạm Thị Thoa. Bà đã lãnh đạo nghĩa quân đánh giặc Minh ở vùng Cửa Sót (nay thuộc xã Thạch Kim – Thạch Hà – Hà Tĩnh).

Trong lúc mải mê đánh giặc, bà nghe tin con trai mình (Nguyễn Duy Khôi hay ông Hoàng Mười) hy sinh tại trận do bị tướng giặc Minh Thái Phúc chém lìa đầu. Bà Phạm Thị Thoa hoang mang, đau buồn vì người con trai duy nhất của bà đã hy sinh nơi trận mạc (ở Lạch Quèn, nay thuộc huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An) nhưng bà vẫn không lên đường nhập ngũ.

Khi thế giặc mạnh, bà Phạm Thị Thoa và một tướng nhà Lê là Sử Hy Nhân không chống nổi, phải rút vào chiến hào ở vùng đất xã Ngọc Sơn, nơi có một cây cổ thụ rất lớn. Cô và nghĩa quân ẩn náu ở đó để đợi vị tướng trẻ trong lúc thua trận. Nhưng đợi mãi cô cũng không thấy Tô Hy Nhân đến nơi đã hẹn.

Bỗng một hôm, mưa to gió lớn, sấm chớp, một con hổ lớn ba chân xuất hiện, cõng nàng chạy thẳng đến núi Đồng Bút (nay thuộc Truông Bát, Khe Giao) lấy hai hòn đá to ông Hổ đặt nàng xuống đó. mà không ăn cô ấy. Ngược lại, ông Hộ còn bắt người và thú rừng đem về ăn nhưng bà Phạm Thị Thoa chỉ hái quả ăn trong ngày.

Cô đã trút hơi thở cuối cùng tại Rú Dơi.

Cho đến khi Thái tử Nguyên Long, con của Vương phi thứ ba của Lê Lợi (bà Phạm Thị Ngọc Trân) lên ngôi, tức là vua Lê Thái Tông. Thương tiếc bà Phạm Thị Thoa, nhà vua cùng với tùy tùng và quân lính tìm đến vùng đất mà bà đã tập hợp nghĩa quân bằng một cây thị lớn (gọi là Miếu Đôi ngày nay).

Chờ mãi không thấy bà Phạm Thị Thoa, Vua vào rừng sâu dưới chân núi Đôi, nơi có hai phiến đá, thì thấy xác bà đã bị mối mọt làm thành mộ. Nhà vua thấy vậy rất thương cảm cho một cung nữ – một nữ tướng văn võ song toàn có công phò Lê giúp nước. Vua Lê Thái Tông đã cho xây dựng miếu thờ bà và xức dầu cho bà là Vương Nương Thánh Mẫu Lộc Hòa Công chúa Thượng đẳng thần.

Một bài thơ khác kể rằng, sau này vua Minh Mạng đi voi ngựa đến đây, khi quần thần đi đến Khe Giao, trời bỗng tối sầm, mây đen vần vũ, voi ngựa không chịu đi nữa. Nhà vua ngẩng đầu nhìn trước mặt, cây cối um tùm rũ xuống ngôi miếu rêu phong, linh lực từ đó trỗi dậy. Vua và các gia nhân cảm thấy ớn lạnh trong người, vội trói voi ngựa, vào chùa dâng hương, cúng dường.

Một lúc sau, mây tan, gió lặng, núi rừng trong sáng trở lại, vua và quân của mình đã có thể đi lại được.

Thấy được sự kỳ lạ của ngôi đền nơi “thâm sơn cùng cốc” nhà vua đã sắc phong là Vương Nương Thánh Mẫu – Cao Sơn Thần Nữ – Chế Thắng Ma Vàng Lệ Mai Đại Vương – Thượng Mẫu – Thượng Đẳng Thần. Sau đó ông cho lập một ngôi đền nguy nga ngay trên nền của Đền thiêng và truyền lệnh cho thần dân đến cúng tế.

Lịch sử xây dựng đền Truông Bát – đền Bà Chúa Lộc

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, do nhiều nguyên nhân, đền thờ Vương Nương Thánh Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Lộc Hoa Công chúa bị tàn phá, hoang phế. Mãi đến năm 2006, từ một cơ duyên đặc biệt, thầy giáo Ngô Thanh Cẩn đã đứng ra trùng tu, trùng tu.

Đến tháng 2-2008, có hai đơn vị là Công ty Cổ phần Đầu tư Thành Công (Nghệ An), Công ty TNHH Xuân Hà (Hà Tĩnh) và một người bạn đã bỏ công sức, vật lực để xây dựng công trình. Ngôi chùa khang trang như ngày nay. Từ chỗ chỉ là một vùng rêu phong, lạnh lẽo, qua quá trình tôn tạo, ngôi đền đã trở nên uy nghiêm hơn.

Giữa thung lũng 8 ngọn núi trùng điệp là Thượng điện, Trung điện, Hạ điện, uy nghi với những pho tượng, bàn son thếp vàng lộng lẫy. Đường vào đã được bê tông hóa rộng rãi.

Đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc là sự kết tinh giữa vẻ đẹp tâm linh và vẻ đẹp của cảnh quan hùng vĩ. Đền còn thờ Mẫu đệ nhất (Liễu Hạnh), Mẫu đệ tam (Thới phủ) nên được gọi là Miếu Tam Phủ và 7 vị khác.

Đây là nơi hội tụ của du khách thập phương không chỉ vì tín ngưỡng tâm linh mà còn để chiêm ngưỡng phong cảnh hữu tình.

Lễ hội Đền Truông Bát – Đền Bà Chúa Lộc

Hàng năm, vào ngày 7 tháng 4 âm lịch, đền Truông Bát tổ chức tiệc vía Bà Chúa Lộc, đây cũng là ngày hội tại đền Bà Chúa Lộc.

Thơ về Dinh Chúa Lộc – Trường Bát

Cung điện thứ tám của Hoàng đế đồng ý.

Phiên bản Ngũ Phượng hạ cảnh vui mừng.

Thánh Mẫu của Thiên Chúa ở trên ngai vàng

Thành đồng đệ tử xa gần

Mức độ cho toàn bộ phần mười

Phần tươi, phần tốt, phần gần, phần xa

Cung cấp cho cửa của Chúa

Mũ dâu, áo trắng, quạt hoa tiên nữ


Thông tin thêm

Bí ẩn ngôi đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc ở Hà Tĩnh

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

[rule_3_plain]

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

Đền Đền Truông Bát hay đền Bà Chúa Lộc thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền thờ Bà Chúa Lộc thân mẫu của Ông Hoàng Mười Nghệ An.

Chúa bà Ngũ Hành là ai, được thờ ở đâu?

Tiệc ông Hoàng Mười vào ngày nào?

Đền ông Hoàng Mười linh thiêng

Sắm lễ ông Hoàng Mười gồm những gì?

Đường đi từ Hà Nội đến đền ông Hoàng Mười Nghệ An

Sự thật thú vị về Ông Hoàng Mười ?

Cùng TamLinhViet đi tìm hiểu về Đền Bà Chúa Lộc – đền Truông Bát qua bài viết này. 
Đền Truông Bát ở đâu Hà Tĩnh? 
Đền Truông Bát là một di tích cổ được xây dựng cách nay khoảng 600 năm, toạ lạc trên một vùng non xanh nước biếc, ở một góc Ngã ba Khe Giao – chỗ gặp nhau của Tỉnh lộ 3 và Quốc lộ 15, thuộc thôn 1, xã Ngọc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 
Đền thờ Bà Chúa Lộc nằm ở vị trí rất thuận tiện về giao thông: từ trung tâm thành phố Hà Tĩnh đi lên khoảng 12 km, từ ngã ba Đồng Lộc đi tới khoảng 9 km. 

Bà Chúa Lộc là ai? 
Đi qua ngã ba Đồng Lộc là đến đền Truông Bát, là nơi thờ Vương Nương Thánh Mẫu đệ nhị Thượng ngàn hay còn gọi là Lộc Hoa Công Chúa (Bà Chúa Lộc). Tên thật bà là Phạm Thị Thoả, quê ở huyện Đỗ Gia nay thuộc phần đất của huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. 
Bà có chồng tên là Nguyễn Duy Lạc quê ở thôn Xuân Am Mỏ Hạc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bà sinh hạ được một người con trai đặt tên là Nguyễn Duy Khôi (Dân gian thường gọi ông Nguyễn Duy Khôi, được Vua ban quốc tính là Lê Khôi, là Ông Hoàng Thập hay ông Hoàng Mười). 
Bà Phạm Thị Thoả (Bà Chúa Lộc) sống vào thế kỉ XV, một giai đoạn lịch sử biến động của dân tộc Việt Nam: năm 1400 – Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh liền muợn cớ “Phù Trần diệt Hồ” kéo quân sang xâm lược nước ta. Nhà Hồ nhanh chóng sụp đổ, nhà Minh đặt nền đô hộ lên đất nước ta. Ở Lam Sơn – Thanh Hóa, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa.
Trước tình hình đó, bà Phạm Thị Thỏa đến vùng đất nay thuộc xã Ngọc Sơn chiêu mộ binh lính, khai khẩn đất hoang, tích lũy lương thực, rèn luyện binh khí chờ đợi thời cơ khởi nghĩa đánh quân Minh. Đến những năm 1425 – 1426 nghe theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi tiến quân về hướng Nam lấy Nghệ Tĩnh nơi đất rộng người đông làm chỗ “lập cước chi địa” tạo đà tiến đánh thành Đông Quan giải phóng đất nước. 

Ở Nghệ Tĩnh, nghĩa quân Lam Sơn cùng con trai của bà Phạm Thị Thỏa là Lê Khôi được nhân dân đùm bọc, che chở, đóng góp sức người sức của cho nghĩa quân trong đó có cả bà Phạm Thị Thỏa. Bà cầm quân tiến đánh giặc Minh ở miền Cửa Sót (nay thuộc xã Thạch Kim – Thạch Hà – Hà Tĩnh). 
Trong lúc mải mê đánh giặc, bà hay hung tin con trai (Nguyễn Duy Khôi tức ông Hoàng Mười) tử trận do bị tướng giặc Minh Thái Phúc chém đứt đầu. Bà Phạm Thị Thỏa bối rối và đau xót vì người con trai duy nhất của mình đã tử trận (tại Lạch Quèn, nay thuộc huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An), tuy vậy bà vẫn không rời quân ngũ. 
Thế giặc mạnh, bà Phạm Thị Thỏa cùng viên tướng của nhà Lê tên là Sử Hy Nhan chống cự không nổi đã lui quân về chiến hào tại vùng đất thuộc xã Ngọc Sơn, nơi có một cây cổ thụ rất lớn. Bà cùng nghĩa quân ẩn náu nơi đó để chờ viên tướng trẻ trong lúc thua trận thất lạc. Nhưng chờ mãi bà cũng không thấy Sử Hy Nhan đến nơi đã hẹn. 
Bỗng một hôm mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm có một ông Hổ lớn ba chân xuất hiện cõng bà chạy thẳng lên hướng núi Đồng Bụt (nay thuộc Truông Bát, Khe Giao) có hai hòn đá lớn ông Hổ đặt bà xuống đấy mà không ăn thịt bà. Ngược lại ông Hổ còn bắt người và thú rừng mang về cho bà ăn thịt, nhưng bà Phạm Thị Thỏa chỉ hái hoa quả ăn qua ngày. 

Bà trút hơi thở cuối cùng ở Rú Đọi. 
Đến khi Thái tử Nguyên Long con trai của Vương phi thứ ba của Lê Lợi (bà Phạm Thị Ngọc Trần) lên ngôi vua, niên hiệu Lê Thái Tông. Thương xót bà Phạm Thị Thỏa, vua đã cùng đoàn tùy tùng và quân lính tìm đến vùng đất nơi bà tập hợp nghĩa quân có cây cổ thụ lớn (gọi là Miếu Đọi ngày nay). 
Chờ đợi bà Phạm Thị Thỏa mãi không thấy, nhà Vua tiến vào rừng sâu dưới chân núi Đọi, nơi có hai phiến đá, thì tìm thấy thi thể của bà đã được mối làm mộ. Vua thấy vậy rất thương xót cho một người phụ nữ – một nữ tướng văn võ song toàn đã phò Lê giúp nước. Vua Lê Thái Tông đã lập miếu thờ bà và phong cho bà là Vương Nương Thánh Mẫu Lộc Hoa Công Chúa Thượng đẳng tối linh.

Lại có thơ kể rằng, sau này, khi vua Minh Mạng kinh lý qua đây bằng voi ngựa, quân thần khi đi đến Khe Giao đột nhiên trời tối sầm, mây đen vần vũ, voi ngựa không chịu đi thêm nữa. Vua nhìn lên phía trước mặt, cây cối um tùm rủ xuống ngôi miếu rêu phong, linh khí bay lên từ đấy. Nhà Vua và quân thần cảm thấy trong người ớn lạnh, vội buộc voi ngựa, vào miếu dâng hương tiến lễ vái lạy. 
Một lúc sau, mây tan, gió lặng, núi rừng trở lại phong quang, nhà Vua và quân thần mới đi lại được.
Thấy sự kỳ lạ của ngôi miếu nơi “thâm sơn cùng cốc” về đến triều vua phong cho thần miếu là Vương Nương Thánh Mẫu – Cao Sơn Thần Nữ – Chế Thắng Mã Vàng Lê Mại Đại Vương – Thượng Thương – Thượng Đẳng tối linh thần. Rồi lại lập đền thờ nguy nga ngay trên nền Miếu thiêng và chỉ dụ các thần dân đến tế lễ.

Lịch sử xây dựng đền Truông Bát – đền Bà Chúa Lộc 
Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngôi đền thờ Vương Nương Thánh Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Lộc Hoa Công Chúa bị huỷ hoại và bỏ hoang. Mãi đến năm 2006, từ một cơ duyên đặc biệt đã đưa thầy Ngô Thanh Cẩn đến phục dựng tôn tạo lại. 
Đến tháng 2-2008, có hai đơn vị là công ty Cổ phần đầu tư Thành Công (Nghệ An), Công ty TNHH Xuân Hà (Hà Tĩnh) và đạo hữu đã công đức toàn bộ nguyên vật liệu, công sức để xây dựng lại ngôi đền khang trang như hiện nay. Từ chỗ chỉ là một vùng rêu phong hoang lạnh, qua quá trình tôn tạo, đến nay Đền trở nên uy nghi hơn. 
Giữa thung lũng của 8 ngọn núi trùng trùng điệp điệp là Thượng điện, trung điện, hạ điện nguy nga đồ sộ với những tượng vàng, bàn vàng tôn nghiêm, lộng lẫy. Đường vào đã được đổ bê tông rộng rãi. 

Đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc là kết tinh của vẻ đẹp tâm linh và nét đẹp của cảnh quan hùng vĩ. Trong Đền cũng thờ Mẫu Đệ nhất (Liễu Hạnh), Mẫu Đệ tam (Thoải phủ) nên gọi là Đền thờ Tam phủ và 7 vị khác. 
Đây là nơi hội tụ của du khách thập phương không chỉ vì tín ngưỡng tâm linh mà còn để chiêm ngưỡng phong cảnh hữu tình. 
Lễ hội đền Truông Bát – đền Bà Chúa Lộc 
Cứ hàng năm, vào mùng 7 tháng 4 âm lịch đền Truông Bát lại mở tiệc vào ngày húy kỵ của Bà Chúa Lộc, cũng là ngày lễ Hội ở Đền Bà Chúa Lộc. 

Thơ về Phủ Chúa Lộc – Truông Bát 
Truông Bát phủ chúa đề huề 
Ngũ Phương bản cảnh giáng về ngự vui 
Chúa Bà giá ngự chính ngôi 
Thanh đồng đệ tử các nơi xa gần 
Độ cho trọn vẹn mười phần 
Phần tươi, phần tốt, phần gần, phần xa 
Dâng lên chính cửa Chúa Bà 
Nón dâu, áo bạch, quạt ngà hoa tiên

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

[rule_2_plain]

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

[rule_2_plain]

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

[rule_3_plain]

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

Đền Đền Truông Bát hay đền Bà Chúa Lộc thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền thờ Bà Chúa Lộc thân mẫu của Ông Hoàng Mười Nghệ An.

Chúa bà Ngũ Hành là ai, được thờ ở đâu?

Tiệc ông Hoàng Mười vào ngày nào?

Đền ông Hoàng Mười linh thiêng

Sắm lễ ông Hoàng Mười gồm những gì?

Đường đi từ Hà Nội đến đền ông Hoàng Mười Nghệ An

Sự thật thú vị về Ông Hoàng Mười ?

Cùng TamLinhViet đi tìm hiểu về Đền Bà Chúa Lộc – đền Truông Bát qua bài viết này. 
Đền Truông Bát ở đâu Hà Tĩnh? 
Đền Truông Bát là một di tích cổ được xây dựng cách nay khoảng 600 năm, toạ lạc trên một vùng non xanh nước biếc, ở một góc Ngã ba Khe Giao – chỗ gặp nhau của Tỉnh lộ 3 và Quốc lộ 15, thuộc thôn 1, xã Ngọc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. 
Đền thờ Bà Chúa Lộc nằm ở vị trí rất thuận tiện về giao thông: từ trung tâm thành phố Hà Tĩnh đi lên khoảng 12 km, từ ngã ba Đồng Lộc đi tới khoảng 9 km. 

Bà Chúa Lộc là ai? 
Đi qua ngã ba Đồng Lộc là đến đền Truông Bát, là nơi thờ Vương Nương Thánh Mẫu đệ nhị Thượng ngàn hay còn gọi là Lộc Hoa Công Chúa (Bà Chúa Lộc). Tên thật bà là Phạm Thị Thoả, quê ở huyện Đỗ Gia nay thuộc phần đất của huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. 
Bà có chồng tên là Nguyễn Duy Lạc quê ở thôn Xuân Am Mỏ Hạc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bà sinh hạ được một người con trai đặt tên là Nguyễn Duy Khôi (Dân gian thường gọi ông Nguyễn Duy Khôi, được Vua ban quốc tính là Lê Khôi, là Ông Hoàng Thập hay ông Hoàng Mười). 
Bà Phạm Thị Thoả (Bà Chúa Lộc) sống vào thế kỉ XV, một giai đoạn lịch sử biến động của dân tộc Việt Nam: năm 1400 – Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh liền muợn cớ “Phù Trần diệt Hồ” kéo quân sang xâm lược nước ta. Nhà Hồ nhanh chóng sụp đổ, nhà Minh đặt nền đô hộ lên đất nước ta. Ở Lam Sơn – Thanh Hóa, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa.
Trước tình hình đó, bà Phạm Thị Thỏa đến vùng đất nay thuộc xã Ngọc Sơn chiêu mộ binh lính, khai khẩn đất hoang, tích lũy lương thực, rèn luyện binh khí chờ đợi thời cơ khởi nghĩa đánh quân Minh. Đến những năm 1425 – 1426 nghe theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi tiến quân về hướng Nam lấy Nghệ Tĩnh nơi đất rộng người đông làm chỗ “lập cước chi địa” tạo đà tiến đánh thành Đông Quan giải phóng đất nước. 

Ở Nghệ Tĩnh, nghĩa quân Lam Sơn cùng con trai của bà Phạm Thị Thỏa là Lê Khôi được nhân dân đùm bọc, che chở, đóng góp sức người sức của cho nghĩa quân trong đó có cả bà Phạm Thị Thỏa. Bà cầm quân tiến đánh giặc Minh ở miền Cửa Sót (nay thuộc xã Thạch Kim – Thạch Hà – Hà Tĩnh). 
Trong lúc mải mê đánh giặc, bà hay hung tin con trai (Nguyễn Duy Khôi tức ông Hoàng Mười) tử trận do bị tướng giặc Minh Thái Phúc chém đứt đầu. Bà Phạm Thị Thỏa bối rối và đau xót vì người con trai duy nhất của mình đã tử trận (tại Lạch Quèn, nay thuộc huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An), tuy vậy bà vẫn không rời quân ngũ. 
Thế giặc mạnh, bà Phạm Thị Thỏa cùng viên tướng của nhà Lê tên là Sử Hy Nhan chống cự không nổi đã lui quân về chiến hào tại vùng đất thuộc xã Ngọc Sơn, nơi có một cây cổ thụ rất lớn. Bà cùng nghĩa quân ẩn náu nơi đó để chờ viên tướng trẻ trong lúc thua trận thất lạc. Nhưng chờ mãi bà cũng không thấy Sử Hy Nhan đến nơi đã hẹn. 
Bỗng một hôm mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm có một ông Hổ lớn ba chân xuất hiện cõng bà chạy thẳng lên hướng núi Đồng Bụt (nay thuộc Truông Bát, Khe Giao) có hai hòn đá lớn ông Hổ đặt bà xuống đấy mà không ăn thịt bà. Ngược lại ông Hổ còn bắt người và thú rừng mang về cho bà ăn thịt, nhưng bà Phạm Thị Thỏa chỉ hái hoa quả ăn qua ngày. 

Bà trút hơi thở cuối cùng ở Rú Đọi. 
Đến khi Thái tử Nguyên Long con trai của Vương phi thứ ba của Lê Lợi (bà Phạm Thị Ngọc Trần) lên ngôi vua, niên hiệu Lê Thái Tông. Thương xót bà Phạm Thị Thỏa, vua đã cùng đoàn tùy tùng và quân lính tìm đến vùng đất nơi bà tập hợp nghĩa quân có cây cổ thụ lớn (gọi là Miếu Đọi ngày nay). 
Chờ đợi bà Phạm Thị Thỏa mãi không thấy, nhà Vua tiến vào rừng sâu dưới chân núi Đọi, nơi có hai phiến đá, thì tìm thấy thi thể của bà đã được mối làm mộ. Vua thấy vậy rất thương xót cho một người phụ nữ – một nữ tướng văn võ song toàn đã phò Lê giúp nước. Vua Lê Thái Tông đã lập miếu thờ bà và phong cho bà là Vương Nương Thánh Mẫu Lộc Hoa Công Chúa Thượng đẳng tối linh.

Lại có thơ kể rằng, sau này, khi vua Minh Mạng kinh lý qua đây bằng voi ngựa, quân thần khi đi đến Khe Giao đột nhiên trời tối sầm, mây đen vần vũ, voi ngựa không chịu đi thêm nữa. Vua nhìn lên phía trước mặt, cây cối um tùm rủ xuống ngôi miếu rêu phong, linh khí bay lên từ đấy. Nhà Vua và quân thần cảm thấy trong người ớn lạnh, vội buộc voi ngựa, vào miếu dâng hương tiến lễ vái lạy. 
Một lúc sau, mây tan, gió lặng, núi rừng trở lại phong quang, nhà Vua và quân thần mới đi lại được.
Thấy sự kỳ lạ của ngôi miếu nơi “thâm sơn cùng cốc” về đến triều vua phong cho thần miếu là Vương Nương Thánh Mẫu – Cao Sơn Thần Nữ – Chế Thắng Mã Vàng Lê Mại Đại Vương – Thượng Thương – Thượng Đẳng tối linh thần. Rồi lại lập đền thờ nguy nga ngay trên nền Miếu thiêng và chỉ dụ các thần dân đến tế lễ.

Lịch sử xây dựng đền Truông Bát – đền Bà Chúa Lộc 
Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngôi đền thờ Vương Nương Thánh Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Lộc Hoa Công Chúa bị huỷ hoại và bỏ hoang. Mãi đến năm 2006, từ một cơ duyên đặc biệt đã đưa thầy Ngô Thanh Cẩn đến phục dựng tôn tạo lại. 
Đến tháng 2-2008, có hai đơn vị là công ty Cổ phần đầu tư Thành Công (Nghệ An), Công ty TNHH Xuân Hà (Hà Tĩnh) và đạo hữu đã công đức toàn bộ nguyên vật liệu, công sức để xây dựng lại ngôi đền khang trang như hiện nay. Từ chỗ chỉ là một vùng rêu phong hoang lạnh, qua quá trình tôn tạo, đến nay Đền trở nên uy nghi hơn. 
Giữa thung lũng của 8 ngọn núi trùng trùng điệp điệp là Thượng điện, trung điện, hạ điện nguy nga đồ sộ với những tượng vàng, bàn vàng tôn nghiêm, lộng lẫy. Đường vào đã được đổ bê tông rộng rãi. 

Đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc là kết tinh của vẻ đẹp tâm linh và nét đẹp của cảnh quan hùng vĩ. Trong Đền cũng thờ Mẫu Đệ nhất (Liễu Hạnh), Mẫu Đệ tam (Thoải phủ) nên gọi là Đền thờ Tam phủ và 7 vị khác. 
Đây là nơi hội tụ của du khách thập phương không chỉ vì tín ngưỡng tâm linh mà còn để chiêm ngưỡng phong cảnh hữu tình. 
Lễ hội đền Truông Bát – đền Bà Chúa Lộc 
Cứ hàng năm, vào mùng 7 tháng 4 âm lịch đền Truông Bát lại mở tiệc vào ngày húy kỵ của Bà Chúa Lộc, cũng là ngày lễ Hội ở Đền Bà Chúa Lộc. 

Thơ về Phủ Chúa Lộc – Truông Bát 
Truông Bát phủ chúa đề huề 
Ngũ Phương bản cảnh giáng về ngự vui 
Chúa Bà giá ngự chính ngôi 
Thanh đồng đệ tử các nơi xa gần 
Độ cho trọn vẹn mười phần 
Phần tươi, phần tốt, phần gần, phần xa 
Dâng lên chính cửa Chúa Bà 
Nón dâu, áo bạch, quạt ngà hoa tiên

Nguồn: https://tamlinhviet.org/

#Bí #ẩn #ngôi #đền #Truông #Bát #thờ #Bà #Chúa #Lộc #ở #Hà #Tĩnh

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button