Đạo Mẫu

Linh thiêng đền Mẫu Phố Cát tại Thanh Hoá

Di tích và danh thắng Đền Mẫu – Phố Cát trước đây thuộc xã Thành Vân, nay là thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Đền Phố Cát ở Thanh Hóa không chỉ là vùng đất lịch sử, truyền thuyết mà còn thờ Mẫu Liễu Hạnh – một nét đẹp truyền thống trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.

Lịch sử Đền Phố Cát

Khi tìm hiểu về đền Phố Cát, người dân địa phương và các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều hiện vật quý của thời kỳ đồ đá giữa (thuộc văn hóa Hòa Bình) trong một vài núi đá và hang động. Từ phố Mèo đến hang Con Moong chỉ vài km. Và, đây cũng là vòng xoay của nhiều sự kiện lịch sử thời Đinh – Lê (thế kỷ X) và các thời kỳ tiếp theo.

Nhiều truyền thuyết về cuộc hành quân của các tướng lĩnh Lam Sơn và sự đóng góp của Nhân dân cũng được ghi lại ở vùng này. Phố Cát và thành cổ cũng chứng tỏ đây là căn cứ địa và quê hương của một cuộc khởi nghĩa nông dân lớn vào thế kỷ 18 (cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật) chống lại chúa Trịnh.

Phố Cát còn là nơi in dấu những bước chân hành quân của các chiến sĩ du kích chiến khu Ngọc Trạo. Nơi đây là đầu mối, căn cứ quan trọng của chiến khu Hòa – Ninh – Thanh trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Ngoài việc đóng góp sức người, sức của, nhân dân Phố Cát còn quyên góp được nhiều tiền cho công cuộc kháng chiến…

Ngoài yếu tố lịch sử, địa lý, danh lam thắng cảnh, có lẽ yếu tố quan trọng nhất của Phố Cát chính là lòng ngưỡng mộ của người dân đối với Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các hoạt động văn hóa tâm linh của người dân. ngưỡng dân tộc trong ngôi đền này.

Theo dân gian, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng. Vì lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống trần gian. Sau một thời gian, cô được gọi lên thiên đàng, nhưng Chúa đã nhân từ cho phép cô xuống trần gian để trả nợ. Nàng cùng hai tiên nữ giáng trần giữa Phố Cát, nơi có phong cảnh tươi đẹp, tươi tốt. Các nữ thần cũng thực hiện nhiều phép lạ cho người dân địa phương.

Để tỏ lòng biết ơn, Nhân dân đã dựng đền thờ ở lưng chừng núi để hương khói thờ phụng. Vì vậy, bà được tôn kính là Tiên nữ, thành hoàng đầu tiên của thành phố, Mẹ của thiên hà …

Khi đánh giá về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một giáo sư đã viết: “Trong bốn vị” tứ bất tử “của Việt Nam, Liễu Hạnh là một người phụ nữ và là một biểu tượng đa dạng nhưng sinh động, một nhân vật phi thường nhưng bình thường. Ở Liễu Hạnh ta đã gặp một người tình, vợ Liễu Hạnh hiện ra như một cô gái, một cô tiên, một văn nhân, một nữ tướng.

Nhìn chung, theo ý nghĩa thần thoại trong truyền thuyết dân gian, chúng ta thấy rằng nữ thần Liễu Hạnh đã thể hiện những ước nguyện cần thiết của bất kỳ ai trên cõi đời này. Vì vậy, trong tâm thức của đại đa số người dân đều đồng lòng đề cao và tôn kính nữ thần.

Toàn cảnh kiến ​​trúc đền Mẫu Cát

Đền Phố Cát nằm ở lưng chừng núi, có vị trí như ngai vàng. Trước chùa có ba ngọn núi đá gọi là câu tam Thai làm bình phong. Gần chùa có một con suối nhỏ, có tiếng rô và những thác nước nhỏ chảy róc rách như tiếng nhạc thánh thót bên tai.

Đến trước chùa, suối đổ thành vũng như một hồ nước nhỏ. Ở đó có rất nhiều cá chép, cứ đến mùa lễ hội là người ta lại thấy đàn cá tung tăng bơi lội. Tại đây, Tổng đốc Thanh Hóa đã cho xây dựng một ngôi tháp hình lục lăng, thờ các vị vua nhà Nguyễn ngồi xem cá.

Ở vị trí ngai vàng của ngôi đền là các công trình độc lập từ thấp đến cao, gồm sân rồng 8 mái, cung đệ tam, nhị cung và đệ nhất cung. Mỗi cung điện có 3 gian. 2 khoảng trống với hai đầu của cung thứ hai và thứ ba tạo thành cung liên hoàn lên xuống.

Bên trong các cung điện đều có tượng và đồ thờ bằng chất liệu rất quý.

Bên cạnh công trình chính là nhà khách và lễ tân, cổng tam quan, tháp canh, tường bao hoa, cây cảnh, cầu đá uốn cong bắc qua suối cho khách bộ hành lên Quan Giám và đền Bùi. Tất cả các kiến ​​trúc đều có từ thời Nguyễn.

Tam quan của đền Phố Cát có kiến ​​trúc rất đẹp và hoàn thiện về mặt thẩm mỹ. Tuy là kiến ​​trúc thời Nguyễn nhưng nghệ thuật thể hiện ở trình độ rất cao về mọi mặt. Nó kết hợp kiến ​​trúc hoàng gia với kiến ​​trúc truyền thống một cách tài tình.

Tam quan được làm theo kiểu 2 tầng 8 mái, hai bên tả hữu có ba bậc lên xuống uốn lượn rất linh hoạt, lồng ghép với bố cục hợp lý. Bước lên tầng hai của tam quan, ta có cảm giác như đang đứng trên tòa tháp với tâm hồn lộng gió và những xúc cảm kỳ thú khi nhìn ngắm cảnh vật, sinh vật xung quanh. Kết cấu và mỹ thuật của tam quan có thể nói là uy nghi và tráng lệ nâng cao uy quyền của Thánh Mẫu. Mặt khác, nó còn thể hiện quan niệm, tâm linh truyền thống của dân tộc.

Bên cạnh tam quan là tháp Vọng Ngư có hình lục giác, bố cục hài hòa, cân đối. Tầng trên cùng được trang trí như một đài hoa. Các bậc thang từ chân tháp ăn dần xuống chân suối. Toàn bộ công trình tạo nên nét thơ mộng, hấp dẫn du khách mỗi khi đến xem cá. Cùng với đó là cây cầu đá bắc qua suối hình vòng cung, được làm rất kiên cố bởi những cột đá và phiến đá lớn. Qua nhiều năm, cây cầu vẫn sừng sững và tôn thêm nét mềm mại, duyên dáng cho cả khu Phố Cát cũng như khu tâm linh này.

Từ Đền Phố Cát, băng qua cây cầu đá, chúng ta có thể tiếp tục hành trình du ngoạn khu vực này chỉ trong vòng hơn 1 km để đến các điểm tham quan hấp dẫn khác như Động Thiên Lôi, Động Lá. Lô, bãi đá tự nhiên, đền Quán Giám, đền Bùi, thung lũng Voi và những thác nước trong vắt, mát lạnh như hát giao hòa của thiên nhiên thơ mộng.

Hiện nay, di tích danh thắng Phố Cát chỉ còn lưu giữ được một số hiện vật như: Tượng, kiệu và 4 bia đá thời Nguyễn (1 bia ghi việc trùng tu đền Phố Cát và 3 bia ghi công đức).

Việc nghiên cứu, sưu tầm tư liệu về di tích, danh thắng Phố Cát là việc làm cần thiết và có ý nghĩa, bởi nơi đây chứa đựng nhiều nội dung lịch sử, văn hóa xã hội. Chỉ tìm hiểu sự hình thành và tồn tại của đền Phố Cát (thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh), chúng ta cũng thấy nhiều điều thú vị về sự hình thành và trỗi dậy của văn hóa tín ngưỡng dân tộc.

Ở Phố Cát, khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thăng chức (phù hợp với tâm nguyện của nhân dân), triều đình phong kiến ​​đã định dập tắt yếu tố thần quyền này. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh và kêu oan của Nhân dân, triều đình phong kiến ​​buộc phải chấp nhận và phong thần cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Đồng thời, chùa cũng được xây dựng lại khang trang hơn xưa.

Đền Phổ Cát Mẫu được xếp hạng di tích danh thắng cấp tỉnh năm 1999. Theo dòng chảy của thời gian, đến nay nhiều hạng mục công trình đã có dấu hiệu xuống cấp. Vì vậy, việc bố trí nguồn kinh phí hỗ trợ tu bổ, tôn tạo, mở rộng khu di tích là hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của Nhân dân, cũng như tăng cường gắn kết với nhân dân. giữa các điểm tham quan, thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn.


Thông tin thêm

Linh thiêng đền Mẫu Phố Cát tại Thanh Hoá

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

[rule_3_plain]

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

Di tích và thắng cảnh Đền Mẫu – Phố Cát trước đây thuộc xã Thành Vân, nay là thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Tục ban khen khi hầu đồng, lên đồng

Chầu Tám Bát Nàn

Ban thờ Mẫu ở trong chùa thờ những ai?

Bí ẩn ngôi đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc ở Hà Tĩnh

Chúa bà Ngũ Hành là ai, được thờ ở đâu?

Đền Phố Cát ở Thanh Hóa không chỉ là một vùng đất của lịch sử và huyền thoại, mà nơi đây còn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – nét đẹp truyền thống trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. 
Lịch sử đền Phố Cát 
Khi tìm hiểu về đền Phố Cát, nhân dân địa phương và các nhà nghiên cứu đã phát hiện được nhiều hiện vật quý của thời đại đá giữa (thuộc văn hóa Hòa Bình) ở một vài núi đá và hang động. Từ Phố Cát đến hang Con Moong cũng chỉ cách vài cây số. Và, đây cũng là vòng quay của nhiều sự kiện lịch sử thời Đinh – Lê (thế kỷ X) và các thời tiếp theo. 
Nhiều truyền thuyết nói về cuộc hành quân của các tướng lĩnh Lam Sơn và sự tham gia đóng góp của Nhân dân cũng được ghi nhận ở vùng này. Phố Cát và lũy thành xưa còn minh chứng rằng đây là căn cứ và là quê hương của cuộc khởi nghĩa nông dân lớn vào thế kỷ XVIII (cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật) chống lại chúa Trịnh. 

Phố Cát còn là nơi in dấu những bước đường hành quân của các chiến sĩ du kích chiến khu Ngọc Trạo. Là đầu mối và căn cứ quan trọng của chiến khu Hòa – Ninh – Thanh trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Ngoài đóng góp sức người, Nhân dân Phố Cát còn quyên góp được rất nhiều tiền của cho kháng chiến… 
Bên cạnh yếu tố lịch sử, địa lý và cảnh đẹp, có lẽ yếu tố quan trọng nhất của Phố Cát đó chính là sự ngưỡng mộ của Nhân dân đối với vị đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tín ngưỡng dân tộc ở ngôi đền này. 
Theo truyền thuyết dân gian, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng. Vì lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống trần gian. Sau đó một thời gian, nàng được gọi về trời, nhưng thượng đế rủ lòng thương cho nàng được hạ giới để trả nợ trần. Nàng cùng hai tiên nữ giáng hạ ngay giữa vùng Phố Cát, nơi có phong cảnh đẹp mỹ lệ, tốt tươi. Các nữ thần cũng ban nhiều phép lạ cho dân chúng địa phương. 
Để tỏ lòng biết ơn, Nhân dân đã lập ngôi đền thờ ở lưng chừng núi phụng thờ hương khói. Vì vậy, nàng được suy tôn là Tiên chúa, đệ nhất thành hoàng, Mẫu nghi thiên hạ… 
Khi đánh giá về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, có vị giáo sư đã viết: “Trong bốn vị “Tứ bất tử” của Việt Nam thì Liễu Hạnh là một phụ nữ và là một biểu tượng đa dạng mà sinh động, một nhân vật phi thường song lại bình thường. Ở Liễu Hạnh ta gặp một người yêu, một người vợ. Liễu Hạnh hiện ra khi là một cô gái, một nàng tiên, khi là một nhà văn, một nữ tướng. Liễu Hạnh có hiếu nghĩa theo Nho giáo, có pháp thuật theo Đạo giáo, có quy y theo Phật…”. 
Nói chung, trong cảm quan huyền thoại ở truyền thuyết dân gian, chúng ta thấy nhân vật nữ thần Liễu Hạnh đã thể hiện được những ước vọng cần thiết của bất kỳ ai trên cõi đời này. Do đó mà trong tâm thức của đông đảo người dân đều thống nhất đề cao và tôn trọng nữ thần. 

Tổng quan kiến trúc đền Mẫu Phố Cát 
Đền Phố Cát nằm ở lưng chừng núi, với thế đất tay ngai. Phía trước đền có ba ngọn núi đá gọi là tam thai án ngữ như một bức bình phong. Gần đền có một dòng suối nhỏ, có những hòn non bộ và các thác nước nhỏ chảy qua như khúc nhạc thánh thót bên tai. 
Đến trước cửa đền thì dòng suối đổ vào một cái vũng như một cái hồ nhỏ. Ở đó có rất nhiều cá chép, cứ vào mùa hội đền người dân lại bắt gặp từng đàn cá tung tăng bơi lội. Tại đây, Tổng đốc Thanh Hóa đã cho xây một cái tháp vọng ngư hình lục lăng để dành riêng cho vua nhà Nguyễn ngồi thưởng lãm ngắm cá. 
Trong thế tay ngai của ngôi đền là các công trình độc lập từ thấp lên cao, gồm sân rồng với nghinh môn 8 mái, cung đệ tam, cung đệ nhị và cung đệ nhất. Mỗi cung có 3 gian thông. 2 gian 2 đầu cung nhị và cung tam làm đường liên cung lên xuống. 

Bên trong các cung là tượng và các đồ thờ bằng chất liệu rất quý. 
Bên cạnh công trình chính là nhà khách và tiếp lễ, cổng tam quan, tháp vọng ngư, tường hoa, cây cảnh, cầu cong bằng đá bắc qua suối để khách bộ hành đến đền Quan Giám và đền Bùi. Tất cả kiến trúc đều là thời Nguyễn. 
Tam quan của đền Phố Cát có kiến trúc rất đẹp và hoàn hảo về mặt thẩm mỹ. Mặc dù là kiến trúc thời Nguyễn nhưng nghệ thuật thể hiện lại đạt ở trình độ rất cao về mọi phương diện. Nó kết hợp kiểu kiến trúc cung đình với kiến trúc truyền thống thật tài tình. 
Tam quan được làm theo kiểu 2 tầng 8 mái, hai bên tả, hữu đều có bậc tam cấp lượn vòng lên xuống thật uyển chuyển, hòa nhập với cách bố cục hợp lý. Bước lên tầng hai của tam quan, chúng ta có cảm tưởng như đứng trên tháp nghinh phong với một tâm hồn lộng gió và xúc cảm kỳ thú khi ngắm nhìn cảnh trí và tạo vật xung quanh. Cấu trúc và nghệ thuật của tam quan có thể nói uy nghi tráng lệ nhằm đề cao uy quyền của đức Thánh Mẫu. Mặt khác cũng thể hiện được ý niệm, tâm linh truyền thống của dân tộc. 
Bên cạnh tam quan là tháp vọng ngư, có hình lục lăng, bố cục hài hòa, cân đối. Tầng trên cùng được trang trí bao bọc như đài hoa. Các bậc tam cấp từ chân tháp ăn dần xuống chân suối. Toàn bộ công trình tạo nên nét thơ mộng và hấp dẫn cho du khách mỗi lần đến ngắm cá. Cùng với đó là cây cầu bằng đá bắc qua suối hình vòng cung, được làm rất kiên cố bằng những cột đá và các phiến đá lớn. Trải qua thời gian năm tháng, cầu vẫn đứng vững và tôn thêm phần mềm mại, duyên dáng cho cả một vùng Phố Cát cũng như khu tâm linh này. 
Từ đền Phố Cát, vượt qua cây cầu đá, chúng ta có thể tiếp tục cuộc hành trình du ngoạn ở khu vực này chỉ trong vòng hơn 1 cây số để đến các điểm tham quan hấp dẫn khác như: Động Thiên Lôi, động Lá Lốt, bãi đá thiên tạo, đền Quan Giám, đền Bùi, vực Voi và các thác nước trong trẻo, mát lành như đang ngân lên bản hòa ca của thiên nhiên thơ mộng. 

Hiện nay, di tích và thắng cảnh Phố Cát chỉ còn lưu giữ được một số hiện vật, như: Tượng, kiệu và 4 tấm bia đá thời Nguyễn (1 tấm bia nói về việc trùng tu lại đền Phố Cát và 3 tấm bia ghi tên công đức). 
Nghiên cứu, sưu tầm các nguồn tài liệu nói về di tích và thắng cảnh Phố Cát là điều cần thiết và ý nghĩa, bởi nơi đây chứa đựng nhiều dung lượng lịch sử và văn hóa xã hội. Chỉ riêng việc nghiên cứu về sự hình thành và tồn tại của đền Phố Cát (thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh), chúng ta cũng thấy điều thú vị về sự hình thành và vươn dậy của tín ngưỡng – văn hóa dân tộc. 
Ở Phố Cát, khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được đề cao (bởi phù hợp với ước vọng của Nhân dân) thì triều đình phong kiến đã định dập tắt yếu tố thần quyền này. Song, do sự đấu tranh và thỉnh cầu của Nhân dân, triều đình phong kiến buộc phải chấp nhận và phong thần cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Đồng thời ngôi đền cũng được dựng lại khang trang hơn trước. 
Đền Mẫu Phố Cát đã được xếp hạng di tích và thắng cảnh cấp tỉnh vào năm 1999. Theo dòng chảy thời gian, đến nay nhiều hạng mục công trình đã có dấu hiệu xuống cấp. Vì vậy, việc bố trí nguồn vốn hỗ trợ kinh phí để tu bổ, tôn tạo và mở rộng khu vực di tích là hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của Nhân dân, cũng như tăng cường kết nối giữa các điểm tham quan, thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn.

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

[rule_2_plain]

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

[rule_2_plain]

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

[rule_3_plain]

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

Di tích và thắng cảnh Đền Mẫu – Phố Cát trước đây thuộc xã Thành Vân, nay là thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Tục ban khen khi hầu đồng, lên đồng

Chầu Tám Bát Nàn

Ban thờ Mẫu ở trong chùa thờ những ai?

Bí ẩn ngôi đền Truông Bát thờ Bà Chúa Lộc ở Hà Tĩnh

Chúa bà Ngũ Hành là ai, được thờ ở đâu?

Đền Phố Cát ở Thanh Hóa không chỉ là một vùng đất của lịch sử và huyền thoại, mà nơi đây còn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – nét đẹp truyền thống trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. 
Lịch sử đền Phố Cát 
Khi tìm hiểu về đền Phố Cát, nhân dân địa phương và các nhà nghiên cứu đã phát hiện được nhiều hiện vật quý của thời đại đá giữa (thuộc văn hóa Hòa Bình) ở một vài núi đá và hang động. Từ Phố Cát đến hang Con Moong cũng chỉ cách vài cây số. Và, đây cũng là vòng quay của nhiều sự kiện lịch sử thời Đinh – Lê (thế kỷ X) và các thời tiếp theo. 
Nhiều truyền thuyết nói về cuộc hành quân của các tướng lĩnh Lam Sơn và sự tham gia đóng góp của Nhân dân cũng được ghi nhận ở vùng này. Phố Cát và lũy thành xưa còn minh chứng rằng đây là căn cứ và là quê hương của cuộc khởi nghĩa nông dân lớn vào thế kỷ XVIII (cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật) chống lại chúa Trịnh. 

Phố Cát còn là nơi in dấu những bước đường hành quân của các chiến sĩ du kích chiến khu Ngọc Trạo. Là đầu mối và căn cứ quan trọng của chiến khu Hòa – Ninh – Thanh trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Ngoài đóng góp sức người, Nhân dân Phố Cát còn quyên góp được rất nhiều tiền của cho kháng chiến… 
Bên cạnh yếu tố lịch sử, địa lý và cảnh đẹp, có lẽ yếu tố quan trọng nhất của Phố Cát đó chính là sự ngưỡng mộ của Nhân dân đối với vị đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tín ngưỡng dân tộc ở ngôi đền này. 
Theo truyền thuyết dân gian, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng. Vì lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống trần gian. Sau đó một thời gian, nàng được gọi về trời, nhưng thượng đế rủ lòng thương cho nàng được hạ giới để trả nợ trần. Nàng cùng hai tiên nữ giáng hạ ngay giữa vùng Phố Cát, nơi có phong cảnh đẹp mỹ lệ, tốt tươi. Các nữ thần cũng ban nhiều phép lạ cho dân chúng địa phương. 
Để tỏ lòng biết ơn, Nhân dân đã lập ngôi đền thờ ở lưng chừng núi phụng thờ hương khói. Vì vậy, nàng được suy tôn là Tiên chúa, đệ nhất thành hoàng, Mẫu nghi thiên hạ… 
Khi đánh giá về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, có vị giáo sư đã viết: “Trong bốn vị “Tứ bất tử” của Việt Nam thì Liễu Hạnh là một phụ nữ và là một biểu tượng đa dạng mà sinh động, một nhân vật phi thường song lại bình thường. Ở Liễu Hạnh ta gặp một người yêu, một người vợ. Liễu Hạnh hiện ra khi là một cô gái, một nàng tiên, khi là một nhà văn, một nữ tướng. Liễu Hạnh có hiếu nghĩa theo Nho giáo, có pháp thuật theo Đạo giáo, có quy y theo Phật…”. 
Nói chung, trong cảm quan huyền thoại ở truyền thuyết dân gian, chúng ta thấy nhân vật nữ thần Liễu Hạnh đã thể hiện được những ước vọng cần thiết của bất kỳ ai trên cõi đời này. Do đó mà trong tâm thức của đông đảo người dân đều thống nhất đề cao và tôn trọng nữ thần. 

Tổng quan kiến trúc đền Mẫu Phố Cát 
Đền Phố Cát nằm ở lưng chừng núi, với thế đất tay ngai. Phía trước đền có ba ngọn núi đá gọi là tam thai án ngữ như một bức bình phong. Gần đền có một dòng suối nhỏ, có những hòn non bộ và các thác nước nhỏ chảy qua như khúc nhạc thánh thót bên tai. 
Đến trước cửa đền thì dòng suối đổ vào một cái vũng như một cái hồ nhỏ. Ở đó có rất nhiều cá chép, cứ vào mùa hội đền người dân lại bắt gặp từng đàn cá tung tăng bơi lội. Tại đây, Tổng đốc Thanh Hóa đã cho xây một cái tháp vọng ngư hình lục lăng để dành riêng cho vua nhà Nguyễn ngồi thưởng lãm ngắm cá. 
Trong thế tay ngai của ngôi đền là các công trình độc lập từ thấp lên cao, gồm sân rồng với nghinh môn 8 mái, cung đệ tam, cung đệ nhị và cung đệ nhất. Mỗi cung có 3 gian thông. 2 gian 2 đầu cung nhị và cung tam làm đường liên cung lên xuống. 

Bên trong các cung là tượng và các đồ thờ bằng chất liệu rất quý. 
Bên cạnh công trình chính là nhà khách và tiếp lễ, cổng tam quan, tháp vọng ngư, tường hoa, cây cảnh, cầu cong bằng đá bắc qua suối để khách bộ hành đến đền Quan Giám và đền Bùi. Tất cả kiến trúc đều là thời Nguyễn. 
Tam quan của đền Phố Cát có kiến trúc rất đẹp và hoàn hảo về mặt thẩm mỹ. Mặc dù là kiến trúc thời Nguyễn nhưng nghệ thuật thể hiện lại đạt ở trình độ rất cao về mọi phương diện. Nó kết hợp kiểu kiến trúc cung đình với kiến trúc truyền thống thật tài tình. 
Tam quan được làm theo kiểu 2 tầng 8 mái, hai bên tả, hữu đều có bậc tam cấp lượn vòng lên xuống thật uyển chuyển, hòa nhập với cách bố cục hợp lý. Bước lên tầng hai của tam quan, chúng ta có cảm tưởng như đứng trên tháp nghinh phong với một tâm hồn lộng gió và xúc cảm kỳ thú khi ngắm nhìn cảnh trí và tạo vật xung quanh. Cấu trúc và nghệ thuật của tam quan có thể nói uy nghi tráng lệ nhằm đề cao uy quyền của đức Thánh Mẫu. Mặt khác cũng thể hiện được ý niệm, tâm linh truyền thống của dân tộc. 
Bên cạnh tam quan là tháp vọng ngư, có hình lục lăng, bố cục hài hòa, cân đối. Tầng trên cùng được trang trí bao bọc như đài hoa. Các bậc tam cấp từ chân tháp ăn dần xuống chân suối. Toàn bộ công trình tạo nên nét thơ mộng và hấp dẫn cho du khách mỗi lần đến ngắm cá. Cùng với đó là cây cầu bằng đá bắc qua suối hình vòng cung, được làm rất kiên cố bằng những cột đá và các phiến đá lớn. Trải qua thời gian năm tháng, cầu vẫn đứng vững và tôn thêm phần mềm mại, duyên dáng cho cả một vùng Phố Cát cũng như khu tâm linh này. 
Từ đền Phố Cát, vượt qua cây cầu đá, chúng ta có thể tiếp tục cuộc hành trình du ngoạn ở khu vực này chỉ trong vòng hơn 1 cây số để đến các điểm tham quan hấp dẫn khác như: Động Thiên Lôi, động Lá Lốt, bãi đá thiên tạo, đền Quan Giám, đền Bùi, vực Voi và các thác nước trong trẻo, mát lành như đang ngân lên bản hòa ca của thiên nhiên thơ mộng. 

Hiện nay, di tích và thắng cảnh Phố Cát chỉ còn lưu giữ được một số hiện vật, như: Tượng, kiệu và 4 tấm bia đá thời Nguyễn (1 tấm bia nói về việc trùng tu lại đền Phố Cát và 3 tấm bia ghi tên công đức). 
Nghiên cứu, sưu tầm các nguồn tài liệu nói về di tích và thắng cảnh Phố Cát là điều cần thiết và ý nghĩa, bởi nơi đây chứa đựng nhiều dung lượng lịch sử và văn hóa xã hội. Chỉ riêng việc nghiên cứu về sự hình thành và tồn tại của đền Phố Cát (thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh), chúng ta cũng thấy điều thú vị về sự hình thành và vươn dậy của tín ngưỡng – văn hóa dân tộc. 
Ở Phố Cát, khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được đề cao (bởi phù hợp với ước vọng của Nhân dân) thì triều đình phong kiến đã định dập tắt yếu tố thần quyền này. Song, do sự đấu tranh và thỉnh cầu của Nhân dân, triều đình phong kiến buộc phải chấp nhận và phong thần cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Đồng thời ngôi đền cũng được dựng lại khang trang hơn trước. 
Đền Mẫu Phố Cát đã được xếp hạng di tích và thắng cảnh cấp tỉnh vào năm 1999. Theo dòng chảy thời gian, đến nay nhiều hạng mục công trình đã có dấu hiệu xuống cấp. Vì vậy, việc bố trí nguồn vốn hỗ trợ kinh phí để tu bổ, tôn tạo và mở rộng khu vực di tích là hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của Nhân dân, cũng như tăng cường kết nối giữa các điểm tham quan, thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn.

Nguồn: https://tamlinhviet.org/

#Linh #thiêng #đền #Mẫu #Phố #Cát #tại #Thanh #Hoá

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button