Đạo Mẫu

Tây Tạng và những câu chuyện tâm linh huyền bí

Nhiều nhà khoa học, nhà dân tộc học nổi tiếng đã đơn phương vượt đèo trong tuyết lạnh để vào vùng đất “thiên đỉnh” là Tây Tạng, không ngoài mục đích tìm hiểu những gì thuộc về cõi siêu nhiên. thần bí.

Từ xa xưa, nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và cả những người “nghiệp dư” muốn tìm hiểu về các hiện tượng tâm linh đã đi sâu vào những nơi mà họ cho là trung tâm của những sự việc huyền bí, để chứng kiến ​​những hiện tượng kỳ lạ khó lý giải …

Phát hiện

Nhiều nhà khoa học, nhà dân tộc học nổi tiếng như James Frazer, R. Muller, William Halse Ricers, Ions Veronica, Mbiti John, Wentz W. E, Osborne Harold … đặc biệt có một phụ nữ, nhà văn nữ tên là Alexandra David Neel, một tay trèo non. vượt núi trong tuyết lạnh để vào vùng đất “đỉnh trời” vốn là xứ sở Tây Tạng, không ngoài mục đích tìm hiểu những điều trong tiên cảnh huyền bí. Nhờ đó, thế giới phương Tây được biết về cuộc sống kỳ lạ của các Lạt ma Tây Tạng, đặc biệt là về sức mạnh tâm linh huyền bí của các vị sư sống trong hang động, nơi “Trời và Đất” gần như hòa hợp với nhau thành một thể.

Điểm đặc biệt đáng nói là ở đây các vị sư đều có khả năng nhận thức cao, họ có thể hiểu nhau qua không gian chứ không thể hiện bằng lời nói hay hành động. Nhờ khả năng đọc được suy nghĩ của người khác, nhiều Lạt ma Tây Tạng biết trước những gì người khác đang lên kế hoạch trong đầu. Ngoài ra, các vị này còn có khả năng phân tích quầng màu phát ra từ đầu của bất kỳ ai để biết được ý kiến ​​tốt hay xấu mà người đó đang định. Đây là nguồn sức mạnh của con mắt thứ ba đã được nhiều tài liệu nhắc đến với tên gọi “Thần nhãn” hay “Huệ nhãn”.

Trở lại vấn đề về khả năng hiểu ý người khác cũng như nhìn rõ và phân biệt được quầng màu mà các Lạt ma Tây Tạng sở hữu, đó là một sự thật có vẻ bình thường đối với người dân Tây Tạng. Lý do dễ hiểu là ngay từ nhỏ họ đã được cha mẹ kể cho nghe một câu chuyện cổ tích về người Tây Tạng thời xa xưa, theo câu chuyện cổ này thì vào thời xa xưa đó, tất cả người dân Tây Tạng đều có một “nhãn lực” đặc biệt. Cái nhìn này không phải từ mắt người thường, mà là từ con mắt thứ ba này, mà người xưa gọi là Thiên nhãn hay theo kinh sách là Huệ nhãn. Về sau, do con người dần dần bị cuốn vào con đường vật chất, ích kỷ, tham lam, sân si, mê muội nên tâm không còn trong sáng, minh mẫn. Cuối cùng, giống như một tấm gương bị phủ đầy bụi, con mắt thứ ba trở nên tối và không thể sử dụng được.

Các nhà nghiên cứu về mắt thần Huế đã bắt gặp trong giới động vật hình ảnh chân thực nhất về con mắt thứ ba rõ ràng không thể nghi ngờ. Tuy nhiên, câu hỏi tại sao nó tồn tại và sử dụng thực tế vẫn còn rất mơ hồ. Điều đặc biệt kỳ lạ là ngay trong giới động vật có xương sống thấp, người ta cũng tìm thấy một cấu trúc tương tự như mắt bình thường, đó là còn có dây thần kinh, thủy tinh thể và võng mạc … Cá, lưỡng cư, bò sát, chim, động vật có vú và cả con người. tất cả đều có dấu vết của con mắt thứ ba.

Khi kiểm tra bộ xương của khủng long thời tiền sử, các nhà cổ sinh vật học cũng nhận thấy một chỗ lõm trong hộp sọ của loài bò sát khổng lồ này và đoán đây là vị trí của một cơ quan thị giác. hay nói theo tư tưởng của sự kiện đang thảo luận là “con mắt thứ ba”. Công dụng của con mắt này có lẽ là giúp các loài động vật cổ đại không chỉ nhìn thấy mà còn biết nhiều hơn hoặc cảm nhận được các điều kiện xung quanh như mưa gió, đặc biệt là các vật thể ẩn trên đầu.

Khai trương “Nhãn Huế”

Những khám phá gần đây nhất (năm 1996) của một số nhà khoa học đã chỉ ra rằng trong não người có một tuyến rất nhỏ, chỉ bằng hạt đậu xanh, nhưng công việc của tuyến này rất kỳ diệu, tiết ra chỉ tố đặc biệt với số lượng rất nhỏ. trường hợp người ta hết lòng cầu nguyện, hoặc những lúc người ta lâm vào cảnh nguy khốn, chết chóc. Tuyến lạ đó là tuyến tùng. Khi nội tiết tố của tuyến vào máu, cơ thể sẽ có những phản ứng thần kỳ bất ngờ mà bình thường không có được. Các nhà sinh vật học cũng đã phát hiện ra rằng tuyến Pineal cũng có liên quan đến cái mà người Tây Tạng gọi là con mắt thứ ba.

Chỉ có những người tâm nguyện xả bỏ tham, sân, si, quyết tâm giữ lòng thanh tịnh, chuyên tâm tu luyện thì mới có được Thiên nhãn. Phần lớn các đạo sư vĩ đại của Tây Tạng, đang ẩn cư trên núi cao tuyết trắng hoặc trong các tu viện sâu thẳm, mới có thể có được năng lượng “siêu việt” như vậy. Tuy nhiên, theo các đại sư, không phải người tu luyện Tây Tạng chân chính nào cũng có thần nhãn hay thiên nhãn như chúng ta tưởng, vì để có được thần nhãn, ngoài việc hội đủ những điểm cốt yếu như đã nói ở trên, còn phải có thần thông đặc biệt. kết hợp với các phương pháp tu luyện siêu phàm mới.

Công việc tu luyện cao siêu đó có mục đích mở mang nhãn quan của Huệ. Khi đã có Huệ nhãn thì dù ngồi thiền trong thiền viện, núi cao hay rừng sâu, bạn vẫn có thể nhìn thấy những gì đang xảy ra ở một khoảng cách rất xa, hay chuyển ý nghĩ của mình đến một nơi nào đó cho ai đó.

Ở Tây Tạng, nhiều tu viện thường có các buổi thực hành về việc chuyển giao tư tưởng giữa các đệ tử trong giai đoạn thực hành phép lạ. Phương pháp luyện công rất khoa học, lúc đầu hai đệ tử ngồi cạnh nhau để truyền tâm tư cho nhau. Khi họ nắm bắt được suy nghĩ của nhau, khoảng cách tĩnh được tạo ra giữa hai người này sẽ ngày càng xa.

Bằng cách này, về lâu dài, họ có thể đạt được khả năng truyền suy nghĩ cho nhau qua những khoảng cách rất xa: từ tu viện này sang tu viện khác, từ hang động này sang hang động khác. Theo Alexandra David Neel, dãy Himalaya phủ đầy tuyết nằm im lìm và hoang vắng, nhưng nơi khơi nguồn tư tưởng của các ẩn sĩ lại lan tỏa khắp nơi …

Nguồn: KHI


Thông tin thêm

Tây Tạng và những câu chuyện tâm linh huyền bí

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

[rule_3_plain]

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

Nhiều nhà khoa học và dân tộc học nổi tiếng đã đơn phương độc mã trèo đèo vượt núi trong tuyết lạnh để vào xứ sở của “đỉnh trời” là xứ Tây Tạng không ngoài mục đích là tìm hiểu tận nơi những gì thuộc lãnh vực siêu linh huyền bí.

Orion: Chòm sao thợ săn bí ẩn và 23 điều thú vị bạn cần biết

Cần 350 năm nữa con người mới đạt nền văn minh loại 1, khai thác được năng lượng vũ trụ

Đại dương 644 km dưới bề mặt Trái đất: Sự sống có tồn tại nơi đây?

Sự thật về câu chuyện Ngày tận thế

Từ xưa đến nay có nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và cả những người “nghiệp dư” muốn tìm hiểu về hiện tượng tâm linh, đã đi sâu vào những nơi mà họ cho là trung tâm của các sự kiện huyền bí, để chứng kiến tận mắt những hiện tượng lạ lùng không thể giải thích được…
Khám phá
Nhiều nhà khoa học và dân tộc học nổi tiếng như James Frazer, R. Muller, William Halse Ricers, Ions Veronica, Mbiti John, Wentz W. E, Osborne Harold… đặc biệt là một người phụ nữ, một nữ văn sĩ tên là Alexandra David Neel đã đơn phương độc mã trèo đèo vượt núi trong tuyết lạnh để vào xứ sở của “đỉnh trời” là xứ Tây Tạng không ngoài mục đích là tìm hiểu tận nơi những gì thuộc lãnh vực siêu linh huyền bí. Nhờ đó mà thế giới Tây phương mới biết được những cuộc sống lạ lùng của các vị Lạt Ma Tây Tạng, nhất là biết về những năng lực tâm linh kỳ bí của những vị sư sống trong hang động, nơi mà “Trời” và “Đất” gần như giao hòa với nhau thành một thể.
Điểm đặc biệt đáng nhắc đến là nơi đây các vị sư đều có khả năng cao về nhận thức, họ có thể hiểu nhau qua không gian hơn là biểu lộ bằng lời nói hay hành động. Nhờ khả năng đọc được tư tưởng người khác mà nhiều vị Lạt Ma Tây Tạng biết trước được những gì mà người khác đang dự tính trong đầu. Ngoài ra những vị này còn có khả năng phân tích vầng màu sắc tỏa ra từ đầu bất cứ ai để từ đó biết được ý tưởng tốt hay xấu mà người đó đang dự định. Đây chính là nguồn năng lực của con mắt thứ ba đã được nhiều tài liệu nhắc tới với tên gọi là “Thần nhãn” hay “Huệ nhãn”.
Trở lại vấn đề khả năng thông hiểu ý tưởng người khác cũng như thấy rõ và phân biệt vầng màu mà các vị Lạt Ma Tây Tạng có được thì đó lại là sự kiện có vẻ bình thường đối với người dân Tây Tạng. Lý do dễ hiểu là từ tấm bé, họ đã được cha mẹ kể cho nghe chuyện cổ tích về người Tây Tạng thời cổ xưa, theo chuyện cổ này thì thời xưa ấy, người Tây Tạng ai cũng có một “nhãn lực” đặc biệt, nhãn lực này không phải từ đôi mắt thông thường của con người mà là từ một con mắt thứ ba này mà người xưa gọi là Thần nhãn hay nói theo kinh điển là Huệ nhãn. Về sau, vì con người bị lôi kéo dần vào đường vật chất, ích kỷ, tham lam, sân hận, mê mờ nên trí óc không còn trong sạch, sáng suốt. Cuối cùng như tấm gương bị bụi mờ che kín, con mắt thứ ba trở thành u tối không còn sử dụng được nữa.
Các nhà nghiên cứu về Huệ nhãn đã bắt gặp trong giới động vật hình ảnh trung thực nhất về con mắt thứ ba một cách rõ rệt không chối cãi. Tuy nhiên câu hỏi tại sao lại có sự hiện hữu và công dụng thực tế thì lại còn lắm mơ hồ. Đặc biệt lạ lùng là ngay trong giới động vật có xương sống cấp dưới thì lại thấy hiện một cấu tạo giống như cấu tạo mắt bình thường, nghĩa là cũng có dây thần kinh, thủy tinh thể và võng mạc… Ngay cả loài cá, lưỡng thê, bò sát, chim, cả động vật có vú kể cả con người cũng đều có dấu tích con mắt thứ ba. 
Khi khảo sát bộ xương của loài khủng long thời tiền sử, các nhà cổ sinh vật học cũng chú ý tới một chỗ lõm nơi phần sọ của loài bò sát khổng lồ này và đã đoán nơi đây là vị trí của một cơ quan thị giác hay nói theo suy tưởng của sự kiện đang bàn là “con mắt thứ ba”. Công dụng của con mắt này có lẽ để giúp các loài động vật thời cổ không những thấy mà còn biết thêm hay cảm nhận trước được tình trạng chung quanh như mưa, gió nhất là các vật thể nằm khuất ở vị trí phía trên đầu.
Khai mở “Huệ nhãn”
Những khám phá mới đây nhất (vào năm 1996) từ một số nhà khoa học đã cho biết là trong não người có một tuyến tuy rất nhỏ, chỉ bằng hạt đậu xanh nhưng nhiệm vụ của tuyến này rất kỳ diệu, chỉ tiết ra loại nhân hóa tố đặc biệt với một lượng rất nhỏ trong trường hợp con người đang chú tâm cầu nguyện với tất cả thành tâm, hay vào các giai đoạn con người ở tình trạng nguy biến, thập tử nhất sinh. Cái tuyến lạ lùng đó là tuyến Tùng quả (Pineal gland). Khi phân hóa tố của tuyến đi vào máu thì cơ thể sẽ có những phản ứng kỳ diệu bất ngờ mà lúc bình thường không có được. Các nhà sinh vật học còn khám phá ra rằng tuyến Pineal gland còn có liên quan tới bộ phận mà người Tây Tạng gọi là con mắt thứ ba.
Chỉ những ai chịu vứt bỏ lòng tham luyến sân si mê mờ, quyết tâm giữ lòng trong sạch và tu trì mới có được Huệ nhãn. Chính phần lớn các vị Đại sư Tây Tạng, những người ẩn cư nơi vùng núi cao tuyết giá hay trong các Đạo viện thâm nghiêm là có thể có năng lượng “thượng thừa” ấy mà thôi. Tuy nhiên, theo các vị Đại sư thì không phải tất cả các vị chân tu Tây Tạng đều có Thần nhãn hay Huệ nhãn như ta tưởng, vì muốn có được Thần nhãn thì ngoài hội đủ các điểm cần yếu như đã nói trên, còn phải có Thần lực đặc biệt kết hợp với các pháp môn tu luyện cao siêu mới được.
Phép tu luyện cao siêu đó có mục đích là để khai mở Huệ nhãn. Một khi đã có Huệ nhãn rồi thì dù ngồi tĩnh tọa trong viện, nơi núi cao hay trong rừng sâu vẫn có thể thấy được những gì xảy ra ở khoảng cách rất xa, hay chuyển di tư tưởng đến một nơi nào đó cho ai.
Tại Tây Tạng, nhiều Đạo viện thường có những buổi thực tập về phép chuyển di tư tưởng giữa các hàng đệ tử trong giai đoạn tu luyện các phép thần thông. Phương cách thực tập rất khoa học, lúc đầu hai người đệ tử ngồi cạnh nhau để chuyển tư tưởng cho nhau. Khi bắt được tư tưởng của nhau rồi thì khoảng cách tĩnh tạo giữa hai người này sẽ ở vị trí xa hơn.
Cứ thế mà về lâu về dài họ có thể đạt tới khả năng truyền tư tưởng cho nhau qua khoảng cách rất xa: hoặc từ đạo viện này đến đạo viện khác, từ hang động này đến hang động khác. Theo bà Alexandra David Neel thì dãy Hy Mã Lạp Sơn tuyết phủ im lìm hoang vắng nhưng lại là nơi các nguồn tư tưởng của các vị ẩn tu giăng bủa khắp nơi nơi…
Nguồn: KH

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

[rule_2_plain]

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

[rule_2_plain]

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

[rule_3_plain]

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

Nhiều nhà khoa học và dân tộc học nổi tiếng đã đơn phương độc mã trèo đèo vượt núi trong tuyết lạnh để vào xứ sở của “đỉnh trời” là xứ Tây Tạng không ngoài mục đích là tìm hiểu tận nơi những gì thuộc lãnh vực siêu linh huyền bí.

Orion: Chòm sao thợ săn bí ẩn và 23 điều thú vị bạn cần biết

Cần 350 năm nữa con người mới đạt nền văn minh loại 1, khai thác được năng lượng vũ trụ

Đại dương 644 km dưới bề mặt Trái đất: Sự sống có tồn tại nơi đây?

Sự thật về câu chuyện Ngày tận thế

Từ xưa đến nay có nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và cả những người “nghiệp dư” muốn tìm hiểu về hiện tượng tâm linh, đã đi sâu vào những nơi mà họ cho là trung tâm của các sự kiện huyền bí, để chứng kiến tận mắt những hiện tượng lạ lùng không thể giải thích được…
Khám phá
Nhiều nhà khoa học và dân tộc học nổi tiếng như James Frazer, R. Muller, William Halse Ricers, Ions Veronica, Mbiti John, Wentz W. E, Osborne Harold… đặc biệt là một người phụ nữ, một nữ văn sĩ tên là Alexandra David Neel đã đơn phương độc mã trèo đèo vượt núi trong tuyết lạnh để vào xứ sở của “đỉnh trời” là xứ Tây Tạng không ngoài mục đích là tìm hiểu tận nơi những gì thuộc lãnh vực siêu linh huyền bí. Nhờ đó mà thế giới Tây phương mới biết được những cuộc sống lạ lùng của các vị Lạt Ma Tây Tạng, nhất là biết về những năng lực tâm linh kỳ bí của những vị sư sống trong hang động, nơi mà “Trời” và “Đất” gần như giao hòa với nhau thành một thể.
Điểm đặc biệt đáng nhắc đến là nơi đây các vị sư đều có khả năng cao về nhận thức, họ có thể hiểu nhau qua không gian hơn là biểu lộ bằng lời nói hay hành động. Nhờ khả năng đọc được tư tưởng người khác mà nhiều vị Lạt Ma Tây Tạng biết trước được những gì mà người khác đang dự tính trong đầu. Ngoài ra những vị này còn có khả năng phân tích vầng màu sắc tỏa ra từ đầu bất cứ ai để từ đó biết được ý tưởng tốt hay xấu mà người đó đang dự định. Đây chính là nguồn năng lực của con mắt thứ ba đã được nhiều tài liệu nhắc tới với tên gọi là “Thần nhãn” hay “Huệ nhãn”.
Trở lại vấn đề khả năng thông hiểu ý tưởng người khác cũng như thấy rõ và phân biệt vầng màu mà các vị Lạt Ma Tây Tạng có được thì đó lại là sự kiện có vẻ bình thường đối với người dân Tây Tạng. Lý do dễ hiểu là từ tấm bé, họ đã được cha mẹ kể cho nghe chuyện cổ tích về người Tây Tạng thời cổ xưa, theo chuyện cổ này thì thời xưa ấy, người Tây Tạng ai cũng có một “nhãn lực” đặc biệt, nhãn lực này không phải từ đôi mắt thông thường của con người mà là từ một con mắt thứ ba này mà người xưa gọi là Thần nhãn hay nói theo kinh điển là Huệ nhãn. Về sau, vì con người bị lôi kéo dần vào đường vật chất, ích kỷ, tham lam, sân hận, mê mờ nên trí óc không còn trong sạch, sáng suốt. Cuối cùng như tấm gương bị bụi mờ che kín, con mắt thứ ba trở thành u tối không còn sử dụng được nữa.
Các nhà nghiên cứu về Huệ nhãn đã bắt gặp trong giới động vật hình ảnh trung thực nhất về con mắt thứ ba một cách rõ rệt không chối cãi. Tuy nhiên câu hỏi tại sao lại có sự hiện hữu và công dụng thực tế thì lại còn lắm mơ hồ. Đặc biệt lạ lùng là ngay trong giới động vật có xương sống cấp dưới thì lại thấy hiện một cấu tạo giống như cấu tạo mắt bình thường, nghĩa là cũng có dây thần kinh, thủy tinh thể và võng mạc… Ngay cả loài cá, lưỡng thê, bò sát, chim, cả động vật có vú kể cả con người cũng đều có dấu tích con mắt thứ ba. 
Khi khảo sát bộ xương của loài khủng long thời tiền sử, các nhà cổ sinh vật học cũng chú ý tới một chỗ lõm nơi phần sọ của loài bò sát khổng lồ này và đã đoán nơi đây là vị trí của một cơ quan thị giác hay nói theo suy tưởng của sự kiện đang bàn là “con mắt thứ ba”. Công dụng của con mắt này có lẽ để giúp các loài động vật thời cổ không những thấy mà còn biết thêm hay cảm nhận trước được tình trạng chung quanh như mưa, gió nhất là các vật thể nằm khuất ở vị trí phía trên đầu.
Khai mở “Huệ nhãn”
Những khám phá mới đây nhất (vào năm 1996) từ một số nhà khoa học đã cho biết là trong não người có một tuyến tuy rất nhỏ, chỉ bằng hạt đậu xanh nhưng nhiệm vụ của tuyến này rất kỳ diệu, chỉ tiết ra loại nhân hóa tố đặc biệt với một lượng rất nhỏ trong trường hợp con người đang chú tâm cầu nguyện với tất cả thành tâm, hay vào các giai đoạn con người ở tình trạng nguy biến, thập tử nhất sinh. Cái tuyến lạ lùng đó là tuyến Tùng quả (Pineal gland). Khi phân hóa tố của tuyến đi vào máu thì cơ thể sẽ có những phản ứng kỳ diệu bất ngờ mà lúc bình thường không có được. Các nhà sinh vật học còn khám phá ra rằng tuyến Pineal gland còn có liên quan tới bộ phận mà người Tây Tạng gọi là con mắt thứ ba.
Chỉ những ai chịu vứt bỏ lòng tham luyến sân si mê mờ, quyết tâm giữ lòng trong sạch và tu trì mới có được Huệ nhãn. Chính phần lớn các vị Đại sư Tây Tạng, những người ẩn cư nơi vùng núi cao tuyết giá hay trong các Đạo viện thâm nghiêm là có thể có năng lượng “thượng thừa” ấy mà thôi. Tuy nhiên, theo các vị Đại sư thì không phải tất cả các vị chân tu Tây Tạng đều có Thần nhãn hay Huệ nhãn như ta tưởng, vì muốn có được Thần nhãn thì ngoài hội đủ các điểm cần yếu như đã nói trên, còn phải có Thần lực đặc biệt kết hợp với các pháp môn tu luyện cao siêu mới được.
Phép tu luyện cao siêu đó có mục đích là để khai mở Huệ nhãn. Một khi đã có Huệ nhãn rồi thì dù ngồi tĩnh tọa trong viện, nơi núi cao hay trong rừng sâu vẫn có thể thấy được những gì xảy ra ở khoảng cách rất xa, hay chuyển di tư tưởng đến một nơi nào đó cho ai.
Tại Tây Tạng, nhiều Đạo viện thường có những buổi thực tập về phép chuyển di tư tưởng giữa các hàng đệ tử trong giai đoạn tu luyện các phép thần thông. Phương cách thực tập rất khoa học, lúc đầu hai người đệ tử ngồi cạnh nhau để chuyển tư tưởng cho nhau. Khi bắt được tư tưởng của nhau rồi thì khoảng cách tĩnh tạo giữa hai người này sẽ ở vị trí xa hơn.
Cứ thế mà về lâu về dài họ có thể đạt tới khả năng truyền tư tưởng cho nhau qua khoảng cách rất xa: hoặc từ đạo viện này đến đạo viện khác, từ hang động này đến hang động khác. Theo bà Alexandra David Neel thì dãy Hy Mã Lạp Sơn tuyết phủ im lìm hoang vắng nhưng lại là nơi các nguồn tư tưởng của các vị ẩn tu giăng bủa khắp nơi nơi…
Nguồn: KH

Nguồn: https://tamlinhviet.org/

#Tây #Tạng #và #những #câu #chuyện #tâm #linh #huyền #bí

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button