Đạo Mẫu

‘Tháng 3 giỗ Mẹ’ tưởng nhớ công đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần vừa là nhân thần với những truyền thuyết mang đầy yếu tố kỳ ảo. Người Việt Nam có câu ‘Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ mẹ’, trong đó giỗ Mẹ vào tháng ba âm lịch là để tưởng nhớ công ơn của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ.

Người Việt Nam có câu ‘Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ mẹ’, hay “tháng tám giỗ cha, tháng ba lễ mẹ”, trong đó giỗ mẹ vào tháng ba âm lịch là để tưởng nhớ công ơn của Thánh. Mẹ Liễu Hạnh. Đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn có từ hàng nghìn năm nay của người Việt Nam.

Theo các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, trong Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Mẫu Thượng Thiên, vị Thánh Mẫu đầu tiên có quyền năng cai quản bầu trời, điều khiển các thế lực siêu nhiên như mây. mưa, gió, bão, sấm sét … là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, mẹ nhân gian, một trong bốn vị thánh bất tử của dân tộc Việt Nam.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần vừa là nhân thần với những truyền thuyết mang đầy yếu tố kỳ ảo. Nguồn tư liệu về Bà Liễu Hạnh rất phong phú gồm các truyền thuyết, thần thoại, thần phả, thần phả của các dòng họ sống ở Phủ Giầy.

Truyền thuyết về ba lần sinh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Theo dân gian nước ta, bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng, tên là Quỳnh Hoa công chúa và câu chuyện về Thánh Mẫu Liễu Hạnh gắn liền với 3 lần sinh nở của bà.

Trên bàn thờ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh mặc áo dài đỏ, ngự giữa ba vị Thánh Mẫu.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Sinh ra tại Ý Yên, Nam Định

Lần đầu đánh họ Phạm, tên là Phạm Tiên Nga ở Quảng Na, Vị Nhuệ, Ý Yên, Nam Định.

Vào đầu thời Lê, tại thôn Quảng Na, xã Vị Nhuệ, huyện Ý Yên, Nam Định có một gia đình họ Phạm, hai vợ chồng đều là người hiền lành, đức độ, nhưng đã ngoài 40 tuổi. . không có con cái. Vào một đêm rằm tháng hai, trong giấc mơ, ông bà được báo tin Ngọc Hoàng sẽ sinh hạ cô con gái thứ hai, từ đó người vợ mang thai. Vào đêm trước khi nàng được sinh ra, bỗng nhiên có một nàng tiên từ trên mây xuống và người vợ sinh ra một bé gái. Vì vậy, vợ chồng anh đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Ngà ngày càng xinh đẹp, mọi công việc gia đình nữ đều thành thạo, đảm đang. Không lâu sau, cha cô mất, hai năm sau mẹ cô cũng về cõi thần tiên. Phạm Tiên Nga làm lễ an táng cha mẹ ở phía Đông Nam phủ Nghĩa Hưng (nay là làng La Ngàn, nơi có đền thờ cha và mẹ Phạm Tiên Nga).

Sau 3 năm chịu tang cha mẹ, cô bắt đầu đi khắp nơi làm từ thiện. Bà đã ủng hộ tiền bạc, công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tích Nhĩ (nay là đường đê Bà Sát, nối từ Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến Đà Hà. xã). Ngã ba Vọng). Đây cũng là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung. Cùng với đó, bà còn cho xây 15 cây cầu đá, lấy nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp dân nghèo, chữa bệnh, tu bổ chùa chiền, cấp lương cho các sĩ tử. các thầy cô giáo, khuyên các em cố gắng dạy dỗ các em nghèo được học hành đến nơi đến chốn …

Năm 36 tuổi, bà ra bờ sông Đôi dựng chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là chùa Kim Thoa, phía trên thờ Nam Hải Quan Thế Âm Bồ tát, phía dưới thờ cha và mẹ.

Sau hai năm bà về tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định; Chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam; Chùa Thiên Thanh ở Đồn Xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn Xá, bà còn chiêu mộ dân giang hồ, lập làng, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), bà về chùa Kim Thoa và tháng 9 năm đó, bà trở về quê cũ để sửa sang ngôi đền thờ tổ họ Phạm khang trang, sang trọng. Sau đó, bà đi du ngoạn trong vùng, khuyên nhủ dân làng về điều đúng và điều sai.

Đêm mồng 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, niên hiệu Hồng Đức (1473), trời nổi giông tố, gió thổi mây bay, bà hóa thân thành trời. Năm đó cô vừa tròn 40 tuổi.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Sinh tại Vụ Bản, Nam Định

Lần thứ hai, bà đánh họ Lê, tên là Lê Thị Thắng (hiệu Giang Tiên) ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định.

Lần này, do nhầm lẫn làm vỡ chén ngọc, bà bị đày xuống trần gian, đầu thai vào một người họ Lê ở thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản (Nam Định), nay là thôn Tiên Hương, xã Kim. Thái tuế năm Đinh Tỵ (1557). Cha cô đặt tên con là Lê Thị Thắng và đặt biệt danh là Giang Tiên (tiên nữ giáng trần). Khi trưởng thành, bà kết hôn với một người đàn ông họ Trần ở cùng làng và mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu (1577). Khi đó, cô mới 20 tuổi. Lăng và đền ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Hiện nay, làng Tiên Hương còn có nhà thờ tổ (còn gọi là Phủ Nội) được xây dựng cách đây 200 năm, thờ thủy tổ họ Trần và họ Lê. Ở Phủ Nội cũng có gia phả ghi rằng Mẫu Liễu Hạnh sinh ra ở làng này với cha là Lê Thái Công và mẹ là Trần Thị Phúc.

Bà là mẹ thiên hạ, một trong bốn vị thánh bất tử của dân tộc Việt Nam.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Sinh ra tại Nga Sơn, Thanh Hóa

Lần thứ ba bà xuống Nga Sơn, Thanh Hóa, sau hơn một năm thì mãn hạn.

Tương truyền, vì lòng trung thành với chồng con, năm Canh Dần (1650), ngày 10 tháng 10, bà được sinh ra tại đất Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đoàn tụ với Ông Trần Đạo lúc này đầu thai là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai. Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân (1668). Lúc đó cô mới 18 tuổi. Đền thờ bà ở Phủ Song Sơn, Thanh Hóa.

Sau đó, bà ra tay giúp dân giúp nước nên được các triều đại sắc phong là: ‘Ma Hoàng công chúa, Thượng đẳng tối cao Linh Tôn thần’, ‘Thượng đẳng tối cao Linh Vi Bách thần chi thủ’ (trong đời vua Lê Thần Tông)), ‘Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hòa Điều Đại Vương’ (đời vua Lê Huyền Tông).

Vì vậy, trong lời thỉnh cầu Thánh Mẫu, Mẹ đã hát:

Mời Tiên Thiên

Phong cách Chế Thắng, độ xe đã trở lại

Phủ Dầy, quê Vân Cát

Nghĩa Hưng, Thiên Bản với cải lương họ Lê

Hình dung cốt lõi đổi mới

Mười năm thực hiện định giá hôn nhân

Ngoài ra, còn có nhiều truyền thuyết khác về việc bà hiển linh như bà giúp họ Trịnh dẹp giặc, gặp Bùng (Phùng Khắc Khoan) khi ông từ Trung Quốc trở về … Trong phủ còn có bài thơ về Trạng nguyên. cuộc du ngoạn giữa nàng và bang Bùng được khắc rõ.

Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh ở đâu?

Miếu thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp nơi nhưng chủ yếu vẫn là nơi Mẫu giáng trần hoặc hiện ra để lưu lại các di tích như: Phủ Dầy – Phủ Quang Cung Đệ Nhất ở Vị Nhuế, Ý Yên, Nam Định (nơi Mẫu giáng trần. lần đầu tiên).

Hoành tráng nhất là quần thể Phủ Dầy (nơi Mẹ xuống trần gian lần thứ hai), rồi đến đền Đôi Ngang – Phố Cát, đền Sòng ở Thanh Hóa (nơi Mẹ giáng trần lần thứ ba). Ngoài ra còn có phủ Tây Hồ, đền Rồng, đền Dâu, quán Cháo… đều là những nơi Mẹ đã để lại di tích.

Ngày lễ tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày nào?

Lễ hội chính để tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là vào ngày 3 tháng 3 âm lịch, tức là ngày bà mất vào thứ hai, ngoài ra, ngày rằm tháng tám tại Phủ Tây Hồ cũng được tổ chức rất linh đình. tiệc long trọng.


Thông tin thêm

‘Tháng 3 giỗ Mẹ’ tưởng nhớ công đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

[rule_3_plain]

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo. Người Việt có câu ‘Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ’, trong đó tháng 3 âm lịch giỗ Mẹ là để tưởng nhớ công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Văn khấn cúng mùng 1, ngày rằm tháng 3 Âm lịch

Tết Hàn thực 2022 là ngày nào? Ý nghĩa Tết 3 tháng 3 âm lịch?

Cúng rằm tháng 3: Văn khấn, đồ lễ, cơm cúng và kiêng kỵ

Bài Kinh MẪU nên trì tụng trong ngày mùng 3 tháng 3

Các ngày Đại tiệc Tứ Phủ trong THÁNG 3 hàng năm

Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ
Người Việt có câu ‘Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ’, hay “Tháng 8 Tiệc Cha, tháng 3 Tiệc Mẫu” trong đó tháng 3 âm lịch giỗ Mẹ là để tưởng nhớ công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn có từ hàng nghìn năm nay của người Việt.
Theo các nhà nghiên cứu về đạo Mẫu, trong Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Mẫu Thượng Thiên, vị đệ nhất Thánh Mẫu có quyền năng cai quản bầu trời, làm chủ các thế lực siêu nhiên như mây mưa, gió bão, sấm chớp… chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, bậc mẫu nghi thiên hạ, một trong 4 vị thánh bất tử của người Việt.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo. Nguồn tư liệu về bà Chúa Liễu Hạnh rất phong phú, bao gồm các truyền thuyết, thần tích, các gia phả, ngọc phả của các dòng họ sinh sống tại Phủ Giầy.
Truyền thuyết 3 lần giáng trần của Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Theo truyền thuyết trong dân gian của nước ta, bà vốn là con gái thứ 2 của Ngọc Hoàng có tên là công chúa Quỳnh Hoa và sự tích về Thánh Mẫu Liễu Hạnh gắn liền với 3 lần giáng trần của bà.

Trên ban thờ, Mẫu Liễu Hạnh mặc áo đỏ, ngồi giữa trong ba vị Thánh Mẫu.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Giáng trần tại Ý Yên, Nam Định
Lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm, có tên là Phạm Tiên Nga ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định.
Vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Ý Yên, Nam Định có một gia đình họ Phạm, hai vợ chồng đều là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai đầu thai làm con, từ đó người vợ mang thai. Vào đêm trước khi bà ra đời, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà rồi người vợ sinh một bé gái. Do đó, hai vợ chồng đặt tên con là Phạm Tiên Nga.
Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Không lâu sau, thân phụ của bà qua đời, hai năm sau mẫu thân cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, nơi đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga).
Sau 3 năm để tang cha mẹ, bà bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện. Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng). Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung. Cùng với đó, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành…
Năm 36 tuổi, bà đến bờ sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa, bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ thân phụ và thân mẫu.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định; chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam; chùa Thiện Thành ở Đồn Xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn Xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.
Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), bà trở lại chùa Kim Thoa rồi tháng 9 năm ấy, bà trở về quê cũ tu sửa đền thờ tổ họ Phạm khang trang bề thế. Sau đó Bà lại đi chu du ở trong vùng, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.
Trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, bà đã hoá thần về trời. Năm đó bà vừa tròn 40 tuổi.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Giáng trần tại Vụ Bản, Nam Định
Lần thứ hai, bà giáng vào nhà họ Lê, tên là Lê Thị Thắng (hiệu Giáng Tiên) ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định.
Lần này, do phạm lỗi làm vỡ chén ngọc mà bà bị giáng xuống trần gian đầu thai vào một gia đình họ Lê ở thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản (Nam Định), nay là thôn Tiên Hương, xã Kim Thái vào năm Đinh Tỵ (1557). Cha bà đặt tên con là Lê Thị Thắng và mang biệt hiệu là Giáng Tiên (Tiên giáng trần). Khi trưởng thành, bà lấy chồng họ Trần ở cùng thôn rồi mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu (1577). Năm ấy, bà mới 20 tuổi. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.
Hiện nay làng Tiên Hương còn có nhà thờ tổ (còn gọi là Phủ Nội) đã được xây dựng từ 200 năm trước, thờ các vị tiên tổ hai họ Trần, Lê. Trong Phủ Nội còn có bản gia phả ghi rõ Mẫu Liễu Hạnh được sinh ra tại thôn này có cha là ông Lê Thái Công, mẹ là Trần Thị Phúc.

 Bà là bậc mẫu nghi thiên hạ, một trong bốn vị Thánh bất tử của người Việt.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Giáng trần tại Nga Sơn, Thanh Hoá
Lần thứ ba bà giáng tại Nga Sơn, Thanh Hóa, được hơn 1 năm thì mãn hạn hồi tiên.
Truyền thuyết kể rằng, vì tình nghĩa thuỷ chung với chồng con ở trần thế nên đến năm Canh Dần (1650), bà lại giáng sinh tại đất Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 10 tháng 10, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai. Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân (1668). Năm ấy bà vừa 18 tuổi. Đền thờ Bà là Phủ Sòng Sơn, Thanh Hoá.
Sau đó bà hiển linh giúp dân giúp nước nên được các triều đại sắc phong là: ‘Mã Hoàng Công Chúa, Thượng Đẳng Tối Linh Tôn Thần’, ‘Thượng Thượng Đẳng Tối Linh Vi Bách Thần Chi Thủ’ (triều vua Lê Thần Tông), ‘Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hòa Diệu Đại Vương’ (triều vua Lê Huyền Tông).
Bởi vậy trong văn thỉnh đức Thánh Mẫu mới có hát rằng:
‘Thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên
Sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về
Phủ Dày, Vân Cát thôn quê
Nghĩa Hưng, Thiên Bản họ Lê cải trần
Hình dung cốt cách thanh tân
Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy’
Ngoài ra, còn nhiều huyền thoại khác về sự hiển linh của bà như việc bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc, hội kiến với trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) khi ông đi xứ Trung Quốc về… Trong phủ còn có hẳn một bài thơ về cuộc du ngoạn tao phùng giữa bà với trạng Bùng được chạm khắc rất rõ ràng.

Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh ở đâu?
Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nơi Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích như: Phủ Nấp – Phủ Quảng Cung Đệ Nhất ở Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định (là nơi Mẫu giáng trần lần đầu tiên).
Nguy nga nhất là quần thể Phủ Dầy (nơi Mẫu giáng trần lần thứ hai), rồi Đền Đồi Ngang – Phố Cát , Đền Sòng thuộc Thanh Hóa (nơi Mẫu giáng hiện lần thứ ba). Ngoài ra còn có Phủ Tây Hồ, Đền Rồng, Đền Dâu, Quán Cháo…đều là những nơi Mẫu để lại thánh tích.
Ngày khánh tiệc tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày nào?
Ngày hội chính tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày 3/3 âm lịch, tức là ngày Mẫu mất trong lần giáng sinh thứ hai, ngoài ra ngày rằm tháng 8 ở Phủ Tây Hồ cũng được mở tiệc rất long trọng.

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

[rule_2_plain]

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

[rule_2_plain]

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

[rule_3_plain]

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo. Người Việt có câu ‘Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ’, trong đó tháng 3 âm lịch giỗ Mẹ là để tưởng nhớ công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Văn khấn cúng mùng 1, ngày rằm tháng 3 Âm lịch

Tết Hàn thực 2022 là ngày nào? Ý nghĩa Tết 3 tháng 3 âm lịch?

Cúng rằm tháng 3: Văn khấn, đồ lễ, cơm cúng và kiêng kỵ

Bài Kinh MẪU nên trì tụng trong ngày mùng 3 tháng 3

Các ngày Đại tiệc Tứ Phủ trong THÁNG 3 hàng năm

Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ
Người Việt có câu ‘Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ’, hay “Tháng 8 Tiệc Cha, tháng 3 Tiệc Mẫu” trong đó tháng 3 âm lịch giỗ Mẹ là để tưởng nhớ công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn có từ hàng nghìn năm nay của người Việt.
Theo các nhà nghiên cứu về đạo Mẫu, trong Di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Mẫu Thượng Thiên, vị đệ nhất Thánh Mẫu có quyền năng cai quản bầu trời, làm chủ các thế lực siêu nhiên như mây mưa, gió bão, sấm chớp… chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, bậc mẫu nghi thiên hạ, một trong 4 vị thánh bất tử của người Việt.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một nhân vật vừa là thiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo. Nguồn tư liệu về bà Chúa Liễu Hạnh rất phong phú, bao gồm các truyền thuyết, thần tích, các gia phả, ngọc phả của các dòng họ sinh sống tại Phủ Giầy.
Truyền thuyết 3 lần giáng trần của Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Theo truyền thuyết trong dân gian của nước ta, bà vốn là con gái thứ 2 của Ngọc Hoàng có tên là công chúa Quỳnh Hoa và sự tích về Thánh Mẫu Liễu Hạnh gắn liền với 3 lần giáng trần của bà.

Trên ban thờ, Mẫu Liễu Hạnh mặc áo đỏ, ngồi giữa trong ba vị Thánh Mẫu.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Giáng trần tại Ý Yên, Nam Định
Lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm, có tên là Phạm Tiên Nga ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định.
Vào đầu thời Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Ý Yên, Nam Định có một gia đình họ Phạm, hai vợ chồng đều là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi đã ngoài 40 tuổi mà chưa có con. Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai đầu thai làm con, từ đó người vợ mang thai. Vào đêm trước khi bà ra đời, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà rồi người vợ sinh một bé gái. Do đó, hai vợ chồng đặt tên con là Phạm Tiên Nga.
Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Không lâu sau, thân phụ của bà qua đời, hai năm sau mẫu thân cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, nơi đây có đền thờ Phụ thân và Mẫu thân của Phạm Tiên Nga).
Sau 3 năm để tang cha mẹ, bà bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện. Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng). Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dày với Phủ Quảng Cung. Cùng với đó, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư, khuyên họ cố sức dậy dỗ con em nhà nghèo được học hành…
Năm 36 tuổi, bà đến bờ sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa, bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ thân phụ và thân mẫu.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định; chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam; chùa Thiện Thành ở Đồn Xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn Xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dậy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.
Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), bà trở lại chùa Kim Thoa rồi tháng 9 năm ấy, bà trở về quê cũ tu sửa đền thờ tổ họ Phạm khang trang bề thế. Sau đó Bà lại đi chu du ở trong vùng, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.
Trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, bà đã hoá thần về trời. Năm đó bà vừa tròn 40 tuổi.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Giáng trần tại Vụ Bản, Nam Định
Lần thứ hai, bà giáng vào nhà họ Lê, tên là Lê Thị Thắng (hiệu Giáng Tiên) ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định.
Lần này, do phạm lỗi làm vỡ chén ngọc mà bà bị giáng xuống trần gian đầu thai vào một gia đình họ Lê ở thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản (Nam Định), nay là thôn Tiên Hương, xã Kim Thái vào năm Đinh Tỵ (1557). Cha bà đặt tên con là Lê Thị Thắng và mang biệt hiệu là Giáng Tiên (Tiên giáng trần). Khi trưởng thành, bà lấy chồng họ Trần ở cùng thôn rồi mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu (1577). Năm ấy, bà mới 20 tuổi. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.
Hiện nay làng Tiên Hương còn có nhà thờ tổ (còn gọi là Phủ Nội) đã được xây dựng từ 200 năm trước, thờ các vị tiên tổ hai họ Trần, Lê. Trong Phủ Nội còn có bản gia phả ghi rõ Mẫu Liễu Hạnh được sinh ra tại thôn này có cha là ông Lê Thái Công, mẹ là Trần Thị Phúc.

 Bà là bậc mẫu nghi thiên hạ, một trong bốn vị Thánh bất tử của người Việt.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh: Giáng trần tại Nga Sơn, Thanh Hoá
Lần thứ ba bà giáng tại Nga Sơn, Thanh Hóa, được hơn 1 năm thì mãn hạn hồi tiên.
Truyền thuyết kể rằng, vì tình nghĩa thuỷ chung với chồng con ở trần thế nên đến năm Canh Dần (1650), bà lại giáng sinh tại đất Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 10 tháng 10, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai. Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân (1668). Năm ấy bà vừa 18 tuổi. Đền thờ Bà là Phủ Sòng Sơn, Thanh Hoá.
Sau đó bà hiển linh giúp dân giúp nước nên được các triều đại sắc phong là: ‘Mã Hoàng Công Chúa, Thượng Đẳng Tối Linh Tôn Thần’, ‘Thượng Thượng Đẳng Tối Linh Vi Bách Thần Chi Thủ’ (triều vua Lê Thần Tông), ‘Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hòa Diệu Đại Vương’ (triều vua Lê Huyền Tông).
Bởi vậy trong văn thỉnh đức Thánh Mẫu mới có hát rằng:
‘Thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên
Sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về
Phủ Dày, Vân Cát thôn quê
Nghĩa Hưng, Thiên Bản họ Lê cải trần
Hình dung cốt cách thanh tân
Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy’
Ngoài ra, còn nhiều huyền thoại khác về sự hiển linh của bà như việc bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc, hội kiến với trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) khi ông đi xứ Trung Quốc về… Trong phủ còn có hẳn một bài thơ về cuộc du ngoạn tao phùng giữa bà với trạng Bùng được chạm khắc rất rõ ràng.

Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh ở đâu?
Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nơi Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích như: Phủ Nấp – Phủ Quảng Cung Đệ Nhất ở Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định (là nơi Mẫu giáng trần lần đầu tiên).
Nguy nga nhất là quần thể Phủ Dầy (nơi Mẫu giáng trần lần thứ hai), rồi Đền Đồi Ngang – Phố Cát , Đền Sòng thuộc Thanh Hóa (nơi Mẫu giáng hiện lần thứ ba). Ngoài ra còn có Phủ Tây Hồ, Đền Rồng, Đền Dâu, Quán Cháo…đều là những nơi Mẫu để lại thánh tích.
Ngày khánh tiệc tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày nào?
Ngày hội chính tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày 3/3 âm lịch, tức là ngày Mẫu mất trong lần giáng sinh thứ hai, ngoài ra ngày rằm tháng 8 ở Phủ Tây Hồ cũng được mở tiệc rất long trọng.

Nguồn: https://tamlinhviet.org/

#Tháng #giỗ #Mẹ #tưởng #nhớ #công #đức #Thánh #Mẫu #Liễu #Hạnh

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button